Biểu Quyết

Bạn biết website của chúng tôi qua kênh thông tin nào?

  •   Internet
  •   Báo chí
  •   Nghe bạn bè giới thiệu

Biểu quyết

Xem kết quả

Số lượt truy cập: 11401640

Đang online: 73

» Hỗ Trợ Xuất Bản » Tác Phẩm Đã Được Hỗ Trợ

HÀNH TRẠNG TÂM LINH

-- Ngày cập nhật:25/10/2011

HÀNH TRẠNG TÂM LINH là tập truyện ngắn của Nhà thơ Đỗ Trọng Khơi đã được Quỹ Hỗ Trợ Văn chương & Cuộc sống hỗ trợ. Ngày 19/8/2011 400 cuốn sách đã được trao tận tay Nhà thơ Đỗ Trọng Khơi.

HÀNH TRẠNG TÂM LINH

 

                      CỔ  TÍCH  XƯA    NAY

 

TRUYỆN MỘT

 

Về Gióng, thuở mới ba bốn tuổi đã không ít chuyện kháo truyền thêu dệt. Việc Gióng biếng nói biếng cười cũng được xem là sự lạ, mọi người nhìn Gióng ngỡ ngàng suy đoán bao điều.

Mẹ Gióng nhớ lần đang mải xay thóc bị Gióng đùa nghịch quẩn chân, bà mắng đuổi. Gióng cười và chợt vịnh thơ: "Ngoài bốn phương dựng nổi sơn hà - Trong một cột chống cùng trời đất..." Ý thơ đầy chí khí, như có thần ứng. Bà mẹ mừng thầm. Nhưng với trái tim một người mẹ nghèo, bà mừng hơn thấy Gióng là đứa bé có sức vóc, dễ nuôi. Ngủ bên bà đêm đêm Gióng vẫn thường nũng nịu đòi sờ vú mẹ.

Ngày Gióng tới tuổi trưởng thành gặp lúc nước nhà lâm hiểm. Gióng hăng hái đầu quân giết giặc. Toàn dân phất cờ dấy nghĩa. Gióng được nhân dân suy tôn là tráng sĩ và giao cho chỉ huy một đạo quân. Thần khí quân dân nổi như nước cuốn. Gióng trong thế trận nhân dân bỗng lớn lên, uy danh dũng khí lạ thường. Quân tướng một lòng, nhân dân trợ sức đạo quân Gióng đánh đâu thắng đấy. Giặc gặp đạo quân Gióng ngỡ gặp thiên binh, có khi chưa đánh đã tan. Gióng cùng ba quân truy đuổi giặc về tận chốn biên thùy. Roi sắt gẫy Gióng nhổ tre ngà làm vũ khí.

Phong Châu được giải phóng. Ngày toàn quốc ca khúc khải hoàn đến gần. Song điều đau thương lớn đã xẩy ra, trong trận giáp chiến cuối cùng Gióng bị trúng tên độc của giặc.

Tướng sĩ mang quân trang áo giáp sắt, nón sắt cùng những đoạn roi sắt gẫy của Gióng về cho cha mẹ Gióng. Người cha hỏi: "Phút cuối Gióng ra sao?" Tướng sĩ thưa: "Vẻ mặt của tướng thanh thản. Khóe mắt ngời lệ long lanh". Người cha bảo: "Tướng mà có lệ tình là tướng tốt!" Đoạn hỏi tiếp: "Gióng có dặn gì không?" Thưa: "Chủ tướng nhủ, họa của non sông không chỉ ở giặc ngoài, còn ở nơi triều chính". Người cha gục đầu ngẫm nghĩ rồi bảo: "Đó là lời của thiên tướng. Của lịch sử". Mẹ Gióng thì khóc ngất, gọi: "Từ nay ai cày ruộng, ai chẻ củi nhóm bếp cho mẹ, Gióng ơi!"

Sau Gióng được nhân dân suy tôn là bậc thánh tướng, hiệu Phù Đổng Thiên Vương và đặt truyện (có thần thoại hóa) nhằm làm gương truyền dạy cho con cháu đời sau.

 

 

          TRUYỆN HAI

 

Đạo quân Gióng chỉ huy phối hợp cùng các đạo quân khác đánh tan giặc, thu non sông về một mối. Gióng về Phong Châu cùng quân dân thiết lập triều đại mới. Do có công lớn, Gióng được phong vương.

Buồn thay. Triều đại mới, các vương công, quan tướng dần cũng sa vào bả vinh hoa, hưởng lạc. Lệ luật sai trái, thuế khóa nặng nề lại được bày đặt nhằm bón rút của dân. Nhân dân lâm vào cảnh khổ nghèo không khác mấy so với các triều đại trước. Tiếng sầu oán lại dậy khắp ngang cùng ngõ hẻm.

Mẹ Gióng khuyên: "Con vốn là con nhà nghèo, là kẻ dân quê áo vải. Trước đây nhà ta khổ nghèo cũng là do bọn quan lại đè nén, tham nhũng. Bọn quan ấy không biết đời con dân. Tưởng con đã thấu! Sao nay nhìn dân bị đẩy vào kiếp sống xưa, con vẫn a dua thói bất công, hưởng lạc?" Gióng trầm ngâm một hồi lâu, rồi đáp: "Vương tướng thường sướng. Lẽ đời vốn vậy chăng!"

Biết không đổi được ý con, và biết con bà cũng khó sống khác được lẽ xác lập quan - dân xưa nay. Trái tim người mẹ - người dân lành đau đớn, xót xa. Bà không yên lòng cùng con hưởng vinh hoa phú quý. Ngẫm cảnh xưa, nhà gianh vách đất, trống trải gió lùa mưa dột, quần manh áo vá, rau cháo nuôi con cực khổ trăm bề. Phần nhờ có tình làng nghĩa xóm đùm bọc, sẻ chia mới vượt qua được, nuôi con nên người. Nay con bà làm vương tướng sang giầu, xét gạn gùng vẫn không ngoài sức dân, không ngoài bàn tay kẻ lao động sương nắng đắp bồi. Càng nghĩ lòng người mẹ càng thêm day dứt lo âu như đi trên băng mỏng, ngồi trên lửa dữ. Xa xôi hơn, lớn lao hơn ngẫm vận thịnh suy thành hoại của non sông, lòng bà càng thêm bội phần kinh hãi.

Từ ấy, sống trong tinh thần, tâm lý vậy mẹ Gióng mình như xác ve qua hạ đợi tàn.

Dân Phong Châu truyền rằng, đám tang mẹ Gióng được tổ chức linh đình lắm. Khi hạ huyệt những chiếc trống đồng rung lên vĩnh tiễn, người dân thấy trăm cánh chim Hồng Lạc hóa thân từ thân trống bay lên dập dìu quanh Gióng. Mầu chim đỏ như máu. Thoáng chốc Gióng cũng hóa thành một giải máu hồng tươi, nửa sa thấm xuống đất, nửa nhằm hướng mặt trời bay vút.

 

 

VĨ THANH

 

Tôi đọc truyện này cho ba người nghe.

Cháu bé học sinh nói:

- Ác! Theo truyện một, để cho người anh hùng của nhân dân tử trận thì tác giả ác. Theo truyện hai, Gióng phụ nghĩa dân, Gióng ác!

Anh bạn trí thức thì bảo:

- Như truyện hai hợp với hiện thực thời vua chúa xưa. Sự trả giá đau thương mà cao sáng. Thương quý thay tinh thần Lạc Việt!

Còn người mẹ liệt sĩ nhủ:

- Mẹ thấy kết như truyện một hơn. Người mẹ nào chẳng đau xót khi con mình tử trận. Nhưng như vậy, con mẹ vẫn là đứa anh hùng dũng tướng. Được vậy, lòng mẹ cũng đỡ ngậm ngùi ân hận.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

                     ĐÔI NẬM CỔ GIA TRUYỀN

 

 

1. "Meo. Meo...". Bà hàng xóm cả ngày nay đi khắp xóm tìm gọi con mèo. Con mèo nhỏ bà vừa mua đuôi rất ngắn. Người ta bảo giống mèo đuôi ngắn của Tầu không hay chuột. Vậy mà giá mua những tám mươi ngàn, bằng giá tiền nửa tạ thóc hai linh ba. Mẹ tôi bảo: "Rồi nhà ta cũng phaỉ bớt cái ăn cái tiêu mua lấy một con. Không đến chết với chuột...".

 

2. Nhớ xưa, dịp đi Hà Nội bố tôi mua về một con mèo tam thể khá đẹp. Con mèo nết ngoan và hay chuột lắm.

Nhà tôi thanh bạch, tiện nghi vật dụng đơn sơ chả có gì đáng kể ngoài một thứ được coi là "quý", đó là đôi nậm sứ lưu truyền từ thời cụ thượng tổ bẩy đời. Đôi nậm thường chỉ được dùng vào việc chế rượu thờ.

Con mèo tam thể có lệ ngồi khoanh tròn, đuôi ve vẩy rồi xoa mặt vuốt râu trước hiên. Mẹ tôi đùa: "Người nào vật ấy". Nghe, bố tôi mỉm cười.

Một đêm tôi chợt tỉnh giấc. Một cảm giác tâm linh lạnh thấu căn nhà. Chiếc nậm bị con mèo tam thể săn chuột đụng đổ lăn mấy vòng trên bàn thờ rơi xuống. May chiếc nậm cổ rơi đúng vào thúng thóc mẹ tôi để hồi chiều. Bố tôi soi chiếc nậm trước ánh đèn pin, lâu sau ông buông tiếng thở phào nhẹ nhõm. Cả nhà như cất đi gánh nặng. Mẹ tôi thắp hương, khấn: "Ơn tổ nghiệp che chở! Rồi quay ra nói với anh em tôi, tao có để thóc cạnh ban thờ bao giờ đâu...".

Ngày sau bố tôi gọi người buôn mèo đến bán con tam thể. Tôi lựa lời ngăn: "Có nên thế không bố?" Bố tôi dằn giọng: "Phải thế thôi!" Tiếc mèo tôi thêm căm ghét con chuột lông xám tinh quái, chỉ nó là hay leo lên ban thờ. Anh trai lớn của tôi, tên Trần, thề độc phaỉ giết bằng được con chuột lông xám ấy.

 

3. Sau chừng một năm việc buôn bán mèo lan đến làng thì lượng mèo vơi đi già nửa. Sau hai năm làng coi như tiệt giống mèo. Cũng từ đấy, làng tôi nhà nào nhà nấy thường xuyên có gói thuốc bả chuột. Thuốc diệt chuột của Tầu tràn khắp khiến người muốn nuôi lại mèo cũng ngại. Cả làng duy nhất còn con mèo nhà cụ Hậu.

Cụ Hậu sống một mình, không chồng con. Nhà cụ kề bên nhà tôi. Cụ nuôi mèo chăm như người ta chăm con thơ. Sợ "đứa con" mình ăn phaỉ chuột chết vì bả thuốc Tầu, cụ Hậu lấy dây làm tròng xích cổ. Ban ngày đi đâu cụ bế mèo theo. Đêm ngủ cụ cột mèo vào chân giường. Gậm giường cụ để một sề tro khi con mướp muốn "ti" thì ti vào đấy. Tôi chọc cụ: "Mèo không bắt chuột còn đâu là mèo". Cụ Hậu cười móm mém: "Đe hình, dọa tiếng ấy mà". Thuốc Tầu cùng các loại bẫy diệt chuột dần không còn mấy hiệu quả. Chuột sinh sôi nẩy nở vô vàn. Mùa màng thất bát do chuột phá thiệt hại không nhỏ. Riêng nhà cụ Hậu như một "góc yên bình" chuột ít bén mảng tới thật. Mẹ tôi có bao thóc giống phaỉ đem gửi nhờ nhà cụ. Tôi với đứa em út tranh nhau sang ngủ đêm bên cụ. Ngủ nhà không yên giấc vì chuột.

 

4. "Góc bình yên" tồn tại cũng chả bao lâu. Thật buồn. Con mèo mướp của cụ Hậu bị người cháu họ bắt trộm bán lấy tiền uống rượu. Cụ Hậu khóc như khóc con. Người cháu cười hềnh hệch, giọng rượu bả lả hát: "Bai bai cái chốn bình yên của làng...". Đứa em út tôi lại thu đèn sách về nhà, đêm nó hay phụng phịu kêu khó ngủ, lực học kém đi. Anh Trần vẫn rình mà diệt chẳng được con chuột lông xám tinh quái. Con chuột ấy vẫn thi thoảng leo lên ban thờ gặm cả chân nhang.

Bố tôi mất. Tuần bốn chín ngày, đêm ấy run rẩy thế nào con chuột lông xám lại dẫn thêm một con nữa leo lên ban thờ ăn xôi, chuối cúng. Anh Trần uất lắm, tay lăm lăm gậy rình dưới chân ban thờ. Rình cả tiếng đồng hồ không thấy nó xuống, anh kê ghế đứng nhìn lên, hai con chuột đang thản nhiên ăn đồ cúng. Anh chộp, chuột chạy. Bàn thờ như có loạn. Một chiếc nậm cổ bị xô đổ lăn xuống nền nhà vỡ tan. Đồ gia truyền vỡ, anh Trần tôi buồn lắm. Qua bốn chín ngày cúng bố, anh xin phép mẹ cho vào Nam làm ăn. Mắt mẹ tôi mọng lệ. Mẹ bảo: "Lớn rồi. Tùy con."

 

5. Còn lại một chiếc nậm sứ gia truyền, mẹ tôi bỏ vào trong chiếc hũ sành nhỏ rồi chôn xuống nền nhà, bảo: "Khi nhà hết chuột mới đem thờ được". Một đêm tôi mơ chiếc nậm cổ hóa thành con mèo tam thể. Kể với mẹ, mẹ bảo: "Tao lại mơ thấy con mèo tam thể về, nó tha chiếc nậm cổ như tha chuột". Nói rồi nhớ bố tôi, mẹ khóc.

 

                                                          30/4/ 1998

 

 

 

 

 

 

 

                           NÉT  TÌNH  QUÊ

 

 

                                             ấp lạnh bóng trăng rồi chết

                                                                   (Thơ Lê Đạt)

 

1. Mặt trời ngả sát chân sương trông đỏ rỡ, con câu mái bay từ vườn về. Dáng chim mệt mỏi, ngơ ngơ.

- Mẹ kiếp. Ngày đông tháng giá, lá rụng vườn khô có gì mà kiếm ăn. Rồi xem mày kiên trì được bao lâu nữa... Gã chửi thầm.

 

2. Gia đình gã mấy năm trước còn yên ấm. Vợ gã người xinh tươi hiền thục. Ma quỷ vẽ đường thế nào, gã bó người vợ trẻ ơ nhà đi buôn. Chả biết gã buôn gì mà kinh tế phất nhanh. Có kinh tế thì nói cười đi đứng cũng khác. Khối người nhìn gã mắt tròn mắt dẹp.

Thế rồi, một hôm nhà gã có khách. Người vợ đang làm đồng được trẻ con hàng xóm gọi, hớt hải về. Khách là một thiếu nữ thành phố. Gặp không cần phân ngôi, bặm trợn thiếu nữ bảo: "Xin lỗi, dài vắn gì thì cũng nói ra mục đích. Tôi và anh ấy đã thương nhau". Người vợ mặt tái môi run, chưa biết đáp sao. Thiếu nữ tiếp: "Tôi cần người chồng, mái nhà để sinh con. Phải bao nhiêu "đô" cho chị đi khỏi nơi đây?"

Người vợ trấn tĩnh, hỏi rõ ngọn ngành. Chị lặng lẽ thu dọn đồ dùng riêng, để lại lá thư (có giấy li hôn) rồi đi khỏi làng.

Về thấy mất vợ, gã đau đớn tru lên. Cô "vợ" mới đỏng đảnh: "Tiếc gì. Anh sắp làm bố rồi đấy!" Gã ngồi lặng. Mấy ngày sau đã thấy gã loe xoe, số trời bày đặt. Vả lại, thời buổi hiện sinh mà sống lối duy tình cũng rách việc, thiệt thân... Nghe anh bạn buôn cứ cười nụ. Gã buồn buồn, ám ảnh vì "nụ cười" bạn bè ấy.

Không lâu sau ngày lấy vợ mới, dân làng thấy gã đi đứng, ăn nói mất dần vẻ khệnh khạng. Thì hay, tâm tính cũng là thứ dễ hoán vị, biến cải. Việc bươn trải xa gần trao sang vai người vợ mới. Gã ở nhà trông thằng cu con và sớm chiều săm sới tỉa uốn cây cảnh. Gã sinh mê chơi cây thế.

 

3. Hôm anh bạn buôn đến nhà chơi, gã được chuốc rượu say mềm. Thành lệ, càng say gã càng ít lời và ngủ li bì. Sớm ấy gã dậy tập thể dục chạy quanh vườn cảnh. Hơi sương mát lạnh buổi sớm cho gã chút thanh thản. Chạy một vòng đến bên cây phu tử - một thế cây đang uốn ghép, gã thấy chiếc võng nilông thường dùng của vợ mắc ở bồn cây. Đất dưới chân phẳng lì, cỏ nhàu nhọ. Gã sinh nghi... Buổi đó gã bạn buôn về không chào từ biệt gã.

Từ đấy tiền vàng trong tủ lần lượt vơi đi. Hỏi thì vợ bảo: "Góp vốn làm ăn". Gã lảu rảu: "Góp với thằng ấy, phaỉ không?". Thị vặc, mắt lành lạnh: "Quên cái lối duy tình đi, kẻo truyền đời nghèo khổ đấy!" Duy tình bỏ đi. Bỏ đi duy tình... Gã cầm lấy chiếc kéo xén cây đi ra vườn, đầu cúi, miệng lẩm nhẩm... Những thế cây được gã chăm sóc vẫn xanh tươi và ngày một thành hình tuyệt đẹp. Vẻ cao nhã của các thế cây dường đã cho gã ý lời gì đó. Gã sống tự chủ dần lại, hành động dứt khoát hơn, thưa sự cúi đầu, loe xoe, lảu rảu, lẩm nhẩm... Gã đòi vợ không được đi buôn xa, việc cần thì gã đi. Nghĩ sao thị cũng đồng ý.

 

4. Gã lại tái xuất thương trường. Chỉ buồn ở nhà không người chăm sóc, cắt tỉa cây thế cành lá bung ra búa xua, chả rõ hình thù và dần chết khô cả. Đến lượt cô vợ sinh buồn, sinh bừa bộn. Nhiều lần đi xa về gặp quần áo của vợ vất khắp giường trong giường ngoài, cầu thang, salon... Nhớ chuyện sớm xưa và lời họ hàng nhắn nhủ, gã hiểu khi gã vắng nhà thị đã hẹn hò tình nhân. Có hôm hai vợ chồng vặc nhau, gã lại tru lên.

"Phải li hôn", gã bảo vợ. Thị cười: "Trở về với văn hóa duy tình, hả?". Gã đỏ vằn mắt: "Cái món hiện sinh của cô đồi bại lắm..." Anh cũng từng phụ người đấy thôi. Hơn thế, anh để người ta nghèo, thua thiệt. Với tôi, anh dậy màu phồn thực, đúng không?". Đòn cuối cùng này đánh gã quỵ hẳn.

 

5. Chiều hoang lạnh. Mặt trời chìm dưới chân sương phả lên màu ánh vàng vọ, bợt bạt. Lại một hơi cạn hết li đầy. Nhà không người can ngăn, mấy lần rượu say gã nôn thốc tháo rồi gục ngủ tại chỗ. Sáng tòe hoe con chó đen liếm mặt, cọ vai lay dậy.

Hôm nay vào ngày thứ 15, gã không cho ăn, còn con chim câu mái dường bất chấp vẫn kiên trì ấp trứng.

- Mẹ kiếp. Con người sống với nhau một nhà còn đểu như... nữa là. Gã định nói "đểu như chó" song thấy con chó đen nhìn mình âu yếm đành nín lời.

Từ hôm con câu trống chết, con câu mái ra khỏi chuồng. Gã đắc ý: "Chắc đi kiếm ăn, kiếm bạn tình rồi..." Sang ngày thứ 17 rồi 18... Gã sốt ruột ra chuồng chim, nghiêng mình nhìn vào, trong tổ nổi một đống mối xông hình con chim. Gã run run chạm tay, đống mối tan rữa, bộ xương lông tã lộ ra. Gã sững lặng, mắt tròn ve, miệng há hốc...

Con chim mái đã chết trong tư thế nằm ấp trứng.

Hai quả trứng chim vẫn còn nguyên vẹn, vỏ trứng vẫn trắng hồng.

 

 

 

 

   

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

                               MẬT NGỮ

 

 

Đây là câu chuyện có thật. Đài Truyền hình thành phố cùng tờ nguyệt báo, mục "Từ làng đến phố" đã nói đến. Phần còn lại do một người giúp việc có tên là Cọi kể cho tôi nghe. Dựa vào các nguồn thông tin ấy tôi viết truyện ngắn này.

 

1. Xoan là một cô bé nhà quê, học khá, tính trực, nết chăm ngoan, gia cảnh nghèo. Mười lăm tuổi học xong phổ thông cơ sở thì người bố thở dài bảo: "Nghỉ học ở nhà đỡ việc cho mẹ mày. Bố sắp kiệt sức rồi." Vậy là nghỉ học chưa tàn một kỳ hè, Xoan đã long đong theo người môi giới ra phố giúp việc.

Ngôi biệt thự bốn tầng, mười tám phòng ngự trên một khoảng vườn đất rộng hơn ba sào Bắc Bộ, ở ngoại vi thành phố là nơi Xoan đến ở việc. Chủ nhà, người chồng làm nghề kinh doanh, người vợ làm giáo học. Cặp vợ chồng gia chủ nọ có hai người con. Cô con lớn đang học Đại học trên Thủ đô. Cậu con út đang học lớp hai thì mắc chứng động kinh, hiện phải nghỉ học ở nhà phục thuốc. Xoan được thuê ở việc chính là chăm nom cậu út, việc phụ là chăm sóc đôi chim cảnh.

- Cậu là nhất. Chim cũng... nhất đấy nhé. Ông chủ dặn.

Còn bà chủ lời đầu tiên bà giục Xoan đi tắm, thay đồ mới: "Ở nhà cô, người giúp việc cũng phải đàng hoàng, sạch sẽ." Từ phòng tắm bước ra với bộ đồ phố phường, Xoan như tằm thoát kén nom khá bắt mắt.

- Chỉ cần sửa sang mái tóc là nét ra phết. Bà chủ khen.

Vào công việc thường nhật, gia chủ giao: Một, không được để cho cậu út trèo leo, nhảy nhót trên cây, trên các tầng lầu; hai, không để cho cậu út một mình trong phòng tắm; ba, không để cậu út chạy nhẩy đá bóng ngoài đường phố; bốn, cho cậu uống thuốc đúng liều, ngủ đúng giờ, ăn đúng lượng; năm, chăm sóc cẩn thận đôi chim cảnh. Xoan thuộc năm việc ấy như thuộc bảng cửu chương. Ông chủ có khi vui vẻ đem Xoan ra tra "cửu chương" trong tiếng cười ngặt nghẽo của cậu út.

Cậu út vốn là đứa trẻ tinh nghịch, bướng bỉnh lại thêm chứng động kinh việc chăm nom tưởng sẽ khó khăn với Xoan. Nhưng ngược lại với sự lo lắng ấy, bằng bản tính chịu thương chịu khó, chăm chút dịu dàng sẵn có trong một cô gái làng Xoan đã chinh phục được tình cảm cậu út. Cậu út tỏ ra hợp và quý mến Xoan. Bố mẹ cậu khi khó bảo ban cậu họ lại gọi Xoan. Việc khó, việc Xoan làm không chu toàn ai ngờ lại là việc chăm sóc đôi chim cảnh.

Người giúp việc trong nhà ngoài Xoan còn có một phụ nữ tên là Cọi, tuổi trạc ngoại năm mươi. Bà Cọi chuyên làm việc nấu nướng, giặt giũ, quét dọn nhà cửa vườn tược. Cùng cảnh đời nên Xoan và bà Cọi thương nhau lắm. Hai người ngủ chung giường, ăn chung mâm, chia sẻ công việc, tâm tình cùng nhau. Về việc chăm chim, bà Cọi đôi ba lần khuyên nhủ Xoan. Bà viện đến cả giá trị tiền bạc của đôi chim ấy.

- Nghe đâu đôi chim ông chủ mua tận xứ Tầu. Giá những mấy ngàn đô, Xoan à.

- Tính ra tiền ta là bao nhiêu hả bác?

- Bác không rõ. Chỉ biết là nhiều cơ man. Dễ bằng tiền cho người quê mình làm nhà, tậu trâu, cưới vợ cho con cháu ấy chứ.

Nghe bà Cọi giải thích vậy Xoan ngơ ngẩn cả người. Thực ra con bé cũng đã phần nào cảm nhận được sự cao giá của đôi chim. Song với bản chất của con người, nó cảm thấy tự ái và nó cố bám víu vào sức lực của cái gốc lòng có tên là "tự ái" đó để cố thủ, để kháng cự. Nhưng là kháng cự ai? Kháng cự cái gì? Phải là Xoan đang tự kháng cự với chính bản thân nó?

Xoan nói với bà Cọi vẻ mặt rắn câng:

- Dù sao chim vẫn chỉ là chim!

Chim - vẫn - chỉ - là - chim! Cái lý lẽ mang sự thật hiển nhiên cũ càng như núi thì đá, sông thì nước vậy mà sao khi đặt lên miệng một đứa trẻ thành sự phản kháng - sự phản kháng  mà bà Cọi - người từng trải hơn bảo rằng lý lẽ của kẻ thiếu thực tế cuộc sống. Đó chỉ là thứ lý lẽ tứa ra từ một nội cảm yếu ớt, từ một bản tính nguyên sơ trong lành chưa hề biết đến một nguồn lực mạnh mẽ lớn lao, luôn có thể nhuộm thấu để biến đổi sự nguyên sơ kia thành ra ố úa, dạn dĩ, cay đắng. Thành ra một thân phận con người.

- Vẹt mà chết đói, tao trừ lương mày.

Ông chủ đe noi nó. Xoan bặm môi nghĩ vậy thì nó phải làm trả nợ đến hết đời mất. Quả có lúc Xoan đã tính chuyện bỏ chết đói đôi chim. Xoan xem đôi chim vẹt cảnh như một sự đối địch. Xoan ghét cay ghét đắng đôi chim vì cảm thấy tự ái và đau đớn với nhận thức đôi chim kia lớn hơn nó về mặt giá trị tiền bạc. Mà cuộc sống ngày nay, hình như nhiều khi chỗ này, chỗ kia người ta lấy tiền bạc làm thước đo, làm tiêu chuẩn định giá. Ở đời, vật lớn hơn thường mạnh mẽ hơn, thường đè bẹp vật nhỏ nhoi khác. Vật nhỏ nhoi, vật đáng bị đe noi, bị coi thường trước bàn tay con mắt xã hội vô tình, lạnh lẽo lại chính là nó ư? Càng nghĩ càng sáng rõ trước nó một kết luận, nó không thể đối địch được với loài vật ấy. Rõ là không thể! Chỉ bằng, một là phải bóp chết đôi chim, hai là về quê sớm đi cho đỡ rách việc.

- Xin ông bà cho cháu nghỉ việc. Xoan đi đến quyết định.

- Về giãi nắng dầm sương, mò cua, bắt ốc hả? Ông chủ cười trêu hỏi lại.

- Thì trước sau gì cháu chả phải về sinh sống với quê. Xoan trả lời có vẻ suy nghĩ và tự tin.

Thực tình gia chủ chưa muốn xa Xoan. Vả nữa, việc chăm đôi chim có gì khó khăn đâu. Rồi ra Xoan sẽ nghĩ lại.

Một chiều, bà chủ đứng dựa bên cổng nhà ngóng dõi xa xăm. Bà lựa lời hỏi Xoan:

- Cháu không ưng việc chăm chim cảnh, chắc có lý do?

Xoan ngần ngừ rồi nói lảng:

- Cái giống chim chuyên nhại lời, ích gì.

- Mỗi cảnh nhà, mỗi tính tình có một cách chơi, cháu ạ.

Xoan định lời như đinh đóng cột:

- Chim vẫn chỉ là chim thôi.

Bà chủ nhìn Xoan chăm chú như thể bà muốn khám phá điều gì. Hồi sau bà lặng lẽ bỏ vào nhà. Nhìn vuốt theo dáng bà chủ, Xoan lẩm bẩm: "Lại vào ôm máy điện thoại cho mà xem. Rõ là người vô công rỗi nghề".

 

2. Mẹ Xoan lên thành phố. Bà nói là đi ngược, tiện thể rẽ vào. Trực cảm xui Xoan không tin lời mẹ. Đêm ấy hai mẹ con được gia chủ xếp cho ngủ riêng phòng. Xoan chắc thế nào mẹ cũng có điều nhắc nhở hay mắng mỏ. Nhưng mẹ Xoan chẳng nói năng gì, bà chỉ âm thầm ôm xiết lấy con vào lòng.

Không im lặng được khi bên lòng canh cánh sự thắc mắc, Xoan hỏi:

- Mẹ có ý định đi chơi thành phố bao giờ đâu?

- Gia chủ có thư về. Quả họ quý mến con đấy.

- Thư họ nói những gì?

- Về chuyện chim muông gì đấy...

Xoan cũng đã thầm đoán vậy.

- Mẹ ơi, cho con về thôi. Ở đây e có ngày con giết đôi chim đó mất.

- Chết. Chết. Con mà làm thế thì có đem cả đời ra làm trả công cũng không xong. Tùy con... Thôi thì về quê cũng được...

 

***

 

Nếu việc dừng ở chỗ Xoan về quê thì câu chuyện chẳng có gì đáng bàn. Số phận đặt bày vốn không đơn giản như vậy.

Về quê được mười một ngày, mười hai đêm Xoan lại vội vàng đi xe khách lên thành phố, trở lại ngôi biệt thự bốn tầng mười tám phòng ấy. Ông bà chủ đồng ý tiếp nhận lại. Cậu út thì mừng quýnh như gặp tình máu mủ.

Bảng "cửu chương" công việc Xoan lại ôn luyện chuyên cần. Hơn thế, việc thứ năm Xoan làm chu đáo, cẩn thận hơn bao giờ hết. Đôi chim cảnh xoan cho ăn đúng bữa, đúng hàm lượng dinh dưỡng mà chúng còn được Xoan thường xuyên tắm rửa, chải chuốt lông cánh. Xoan làm những thứ việc đó thuần thục cứ như việc tập đã nghìn năm.

Cậu út khi tỉnh táo bảo: "Em thương Xoan hơn chim nhiều. Xoan là người. Chim chỉ là chim." Khi cơn động kinh lên thì nó gào thét dẫy dụa trong vòng tay Xoan: "Mày không đáng giá bằng cái móng, cái lông con vẹt nhà tao. Có lần cậu út còn dọa, tao xé thịt con Xoan ra nuôi chim. Tao vặt lông chim cắm vào mắt mày..." Lạ là những lời mắng nhiếc kiểu ấy không làm Xoan thấy tự ái, tổn thương nữa. Xoan vẫn cười hiền, dỗ dành: "Ừ, đúng rồi. Cái lông con vẹt nhà út cũng quý hơn chị. Út giận thì cứ chửi cứ đánh chị chứ đừng đánh vẹt nhé. Út biết không, đôi vẹt đang mang trong nó những mật ngữ thiêng liêng đấy!" Dỗ dành út không được thì Xoan khóc. Khóc nghẹn ngào, tức tưởi. Khóc không phải do than thân, trách phận (như người lớn nghĩ) mà Xoan khóc vì thương cậu út thật lòng và phần vì lo cậu út đánh giết chim vẹt. Những lúc cậu út lao vào đánh chim thì Xoan lấy thân mình làm lá đỡ che chắn. Đôi chim cảnh bây giờ trước Xoan như Tiên đồng, Ngọc nữ, là ước mơ hiện về từ cõi non bồng nước nhược xa vời chứ chẳng tầm thường chút nào.

Nhân bảo như thần bảo. Không đợi cậu út vặt lông, đôi vẹt bỗng rũ lông xõa xượi ra ốm. Chim không sớm tối nhại tiếng người nữa. Tiếng của loài chim thì như chim đã quên từ lâu rồi. Ba ông bác sĩ thú y lần lượt thay nhau đến chữa chạy. Ông chủ buồn thương, bê trễ việc kinh doanh. Bà chủ thì thêm lặng lẽ bên cổng nhà, ngồi lâu hơn bên cái máy điện thoại mỗi khi chiều ngả bóng.

- Cần thuốc Tây, Tầu, dù ở chân mây cuối gío, xin bác sĩ cứ tìm mua bằng được cho tôi. Ông chủ bảo.

Ông bác sĩ thú y chẳng biết đùa hay thật bảo phải lấy máu người cho chim uống mới khỏi. Nghe thế ông chủ định cho lái xe đi đến bệnh viện thành phố mua máu người. Ông bác sĩ thú y lại bảo, máu lạnh không được, "hàn nhập tâm điểu". Phải lấy máu nóng vừa chẩy ra từ cơ thế con người, “nhiệt xung hàn xuất”. Giọng ông bác sĩ thú y thủng thỉnh, lênh chênh trong men rượu ngoại loại thượng hạng.

Với người lớn từng trải, có kinh nghiệm như bà Cọi thì có thể họa lời ông bác sĩ thú y bằng một nụ cười. Còn Xoan, khi nghe lời chẩn trị ấy nó tin ngay. Tin tưởng tuyệt đối!

Xoan chạy băng đến bên cạnh ông bác sĩ thú y, khẩn khoản:

- Xin ông hãy lấy máu của cháu...

- Mày quý chim đến thế kia ư? Ông bác sĩ thú y cười nhởn hỏi lại.

- Vâng ạ!

- Rẻ rúm thì cũng là mạng người. Pháp luật sẽ bảo thế. Mày phải làm đơn.

- Vâng ạ. Cháu sẽ làm đơn. Nói rồi Xoan vội chạy đi lấy giấy bút.

Bà chủ đang ngồi bên cái máy điện thoại chợt đứng lên mắng:

-         Có thôi cái trò đùa trẻ con quái ác ấy đi không.

Xoan sững người lại.

-         Bà ơi, không phải là trò đùa đâu.

-         Ông ấy đùa thế mà cháu không nhận ra à?

Xoan bần thần nói:

-         Cháu… mong là … ông Bác sỹ nói thật…

-         Vì lý do gì, hả?

          -   Đôi chim vẹt kia không phải loại tầm thường. Nó là hiện thân của Tiên Đồng Ngọc Nữ. Là… sinh mạng của cháu...

Bà chủ gay gắt ngát lời:

          -   Cháu nói lảm nhảm, mê sảng gì thế. Mới ngày qua cháu chẳng bảo chim chỉ là chim kia mà?

-         Cháu đã sai! Đã sai!

          -    Cô quyết không tin. Cháu phải nói rõ lý do vì sao, vì sao hả cháu?

Xoan ngục đầu mắt nó râng râng nước.

- Cháu đã tính ra rồi. Lương năm của cháu đựơc năm triệu. Đem cộng với hai mươi năm bằng một trăm triệu. Vậy có đem cộng hết đời lao động của cháu cũng chưa dễ trả được giá tiền đôi chim. Giá thân mạng cháu đây so với thân mạng đôi chim kia thì có đáng gì …Bố cháu đang ốm. Bệnh nặng lắm. Bệnh viện tỉnh bảo cần nhiều tiền mới hy vọng chữa được. Cháu muốn cứu bố. Muốn cứu chim. Mạng bố cháu với gia đình cháu, quý lắm. Mạng chim với gia đình ta, cũng quý. Bà chủ ơi, ông chủ ơi, xin ông bà cứ để cho bác sỹ lấy máu cháu cho chim quý uống. Lỡ cháu có chết… mà cũng chưa chắc cháu đã chết nếu không cần lấy hết máu. Chưa chấc cháu đã chết đâu…Ông…bà chủ ạ…!

Không đợi nghe Xoan nói hết, bà chủ bỏ chạy lên lầu. Bà không cầm đuợc lòng xúc động trước điều toan tính ngây thơ nhưng không phải không có lý, không chính xác của cô bé. Bà nghĩ đến hai nguời làm cha mẹ ở chốn quê xa. Họ nghèo mà cõi lòng vẫn mãn ý, thanh thản vì có được đứa con ngoan ngoãn, hiếu thảo như cái Xoan. Thực sự với bậc làm bố mẹ thì trên đời này không gì quý bằng sinh được những đứa con hiếu thảo. Không gì sánh được! Bà thấm thía điều ấy vì bà cũng là một người mẹ. Bà cũng có con – một đứa con học đại học hẳn hoi, thế mà mấy tháng nay nó ôm mối hận bà chỉ vì bà đã lỡ tát cho nó một cái khi nó dám nói: tình yêu thương trong sáng, đức hy sinh cao cả là thứ mỹ ngôn, thứ vòng kim cô kiểu mới mà giáo lý, gia phong chính là thứ mật chú mà các ông bố bà mẹ, các vị thầy học luôn đặt sẵn trên làn môi khắc kỷ, khô héo của mình…ấy là lần bà cản một mối yêu đương kiểu phù dung sớm nở tối tàn của cô con gái.

Và bà chợt nhớ gần đây đôi chim vẹt đã học thêm tiếng: A di đà phật! Cứu khổ cứu nạn! Thì ra đấy là thứ mật ngữ linh thiêng của cô bé. Thứ mật ngữ của đau thương mà cô bé đã truyền lời kinh nguyện đó sang miệng lưỡi loài chim như tìm tới sự cộng hưởng, nhân reo và bảo trợ cho con người trong cơn hoạn nạn, quẫn bách, trong sự mong chờ cứu độ thấu dẫn đến muôn loài, đến bất cứ nơi nào ẩn chứa niềm cảm thông, hy vọng…

Nghe có tiếng bước chân của Xoan đang dè dặt đến gần. Bà quay đầu lại đón đợi…

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

In tin Lên đầu tin

Phản hồi bài viết:

Tiêu đề:  
Nội Dung:  
Họ tên:  
Email:  
(*: Cần nhập đủ thông tin)

Danh sách Phản hồi: