Biểu Quyết

Bạn biết website của chúng tôi qua kênh thông tin nào?

  •   Internet
  •   Báo chí
  •   Nghe bạn bè giới thiệu

Biểu quyết

Xem kết quả

Số lượt truy cập: 15290199

Đang online: 3

» Tin văn » Nghiên cứu

BÀI THƠ "CHU CÔNG PHỤ THÀNH VƯƠNG ĐỒ" CỦA NGUYỄN TRÃI

-- Ngày cập nhật:13/4/2018

Bài viết của Hoàng Văn Lâu

 

 

Câu chuyện Chu Công giúp Thành Vương vẫn được các sử gia phong kiến coi như một mẫu mực về những gì mà người bề tôi trung thành có thể làm được khi nhận di chiếu giúp đỡ vua nhờ giữ yên giang sơn xã tắc. Là em ruột của Vũ Vương, Chu Công ra sức giúp anh đánh Trụ. Dẹp loạn xong, ông ta không trở về đất phong, tự nguyện ở lại bên cạnh anh. Khi Vũ Vương ốm nặng, ông khẩn cầu tổ tiên trời đất xin được chết thay cho anh. Vũ Vương chết, ông nắm quyền trị nước giúp cháu là Thành Vương còn nhỏ tuổi. Khi có lời dèm, ông lánh ra Đông Đa, làm thơ trao cho Thành Vương.

“Lòng thành’ của Chu Công đã cảm hoá cả trời đất, đến nỗi “bão tố, sấm sét nổi lên đùng đùng”. Thành Vương tỉnh ngộ, đón ông về phụ chính. Đến lúc Thành Vương trưởng thành, ông đã trao trả lại mọi quyền hành trị nước. Tấm gương Chu Công được các triều đại phong kiến đề cao, và rất có ý thức “khai thác”, nhất là ở khía cạnh giúp đỡ vua trẻ một cách hết lòng, vô tư, mọi bề êm đẹp.
Việc vẽ tranh Chu Công giúp Thành Vương có từ khá sớm. Hán thư ghi lại chuyện Hán Vũ Đế sai thợ vẽ tranh Chu Công giúp Thành Vương triều kiến chư hầu ban cho Hoắc Quang, có ý nhờ Quang phò tá người con thứ của ông ta là Hán Chiêu Đế khi ấy mới lên 8 tuổi làm vua(2). ở nước ta, hơn 40 năm trước ngày Lê Lợi để lại di chiếu lập con nhỏ là Lê Nguyên Long lên ngôi, có chuyện Trần Nghệ Tông ban tranh cho Hồ Quí Ly. Sử chép rằng: “Giáp Tuất, năm thứ 7 (1394) tháng 2, Thượng Hoàng (Nghệ Tông) sai thợ vẽ tranh Chu Công giúp Thành Vương, Hoắc Quang giúp Chiêu Đế, Gia Cát giúp Thục Hậu chúa, Tô Hiến Thành giúp quan gia (Thuận Tông) cũng nên như thế”(3). Xem thế, việc vẽ tranh Chu Công việc ban tranh Chu Công đã trở thành một tập tục lịch sử. Người sai vẽ tranh và ban tranh là có ý gửi gắm con côi, người nhận tranh là nhận một sự phó thác đặc biệt, một sứ mạng thiêng liêng. Làm bài thơ Chu Công phụ Thành Vương đồ, Nguyễn Trãi hẳn không phải bỗng dưng vô cớ. Nhà sử học uyên bác Lê Quí Đôn từng ghi nhận: “Khi Thái Tông lên ngôi, Nguyễn Trãi nhận cố mệnh phụ chính”(4). Đặng Trọng An trong Nam Hà ký văn tập cũng khẳng định: “Do công lao, ông (Nguyễn Trãi) được phong Quan phục hầu và nhận di mệnh phù vua trẻ”(5). Có thể nghĩ rằng, bài thơ trên gắn với sự kiện Nguyễn Trãi nhận di mệnh giúp Lê Nguyên Long khi lên ngôi mới 11 tuổi, và được tác giả sáng tác vào lúc xúc động nhất - lúc nhận di mệnh, khoảng năm 1433.
Nếu sự kiện Nguyễn Trãi nhận di mệnh giúp vua trẻ Lê Thái Tông là một minh chứng về quan hệ có thể coi là trong sáng giữa vị thủ lĩnh nghĩa quân Lam Sơn vào những phút cuối đời với người mưu sĩ số một của mình, thì việc tìm hiểu bài thơ, ít nhiều cũng có thể sáng tỏ đôi nét tâm sự nào đó của Nguyễn Trãi, người anh hùng dân tộc đáng kính.
Hai chữ ý thân trong câu thơ đầu có nghĩa là “chí thân”, “người ruột thịt”. Tả truyện: “Thị tắc huynh đệ, tuy hữu tiểu phẫn, bất phế ý thân”(6). (Như vậy, anh em dẫu có giận nhau, nhưng vẫn không bỏ được quan hệ ruột thịt). Chứ ý thân vừa nói đúng quan hệ giữa Chu Công và Thành Vương (chú cháu ruột) vừa có thể lý giải tại sao câu 7 tác giả lại liên tưởng đến một ông Tử Mạnh(7).
Câu thứ hai: “Xử biến thuỳ tương Y Doãn đồng”, Nguyễn Trãi toàn tập dịch là: “Xử cảnh quyền biến, ai đem để cùng với Y Doãn”(8). Đúng là thuỳ có một nghĩa là “ai”, tương có một nghĩa là “để’, đồng có một nghĩa là ‘cùng”, nhưng hiểu như câu dịch, thì ý nghĩa rất mơ hồ, câu thơ sẽ trở thành một câu đố, không phù hợp với truyền thống diễn đạt của các câu “thừa đề”, vốn là để nói rõ tiếp ý của câu đầu.
Thực ra chữ thuỳ trong câu trên, có nghĩa là “hà”. Từ nguyên (tr.1383): “Thuỳ, hà dã”. Như thuỳ kế nghĩa là “hà kế’ (kế gì) ở câu:
Trần thổ cánh thành thuỳ kế thị, 
Sơn lâm hựu hối nhất niên phi. 
(Thơ Đường Ngạn Khiêm tặng Mạnh Đức Mậu)
Hay thuỳ văn nghĩa là “hà văn” (văn kiện gì) ở câu
Nhược sử Hoa Dương chung ngoạ khứ,
Hán gia phong thiện hữu thuỳ văn.
(Thơ Bì Nhật Hưu gửi Nhuận Khanh bác sĩ)
Hoặc thuỳ nhân nghĩa là “hà nhân” (người nào, ai) ở đâu:
Đế đình u điều không đề nguyệt.
Mô tháp thuỳ nhân vị tác minh 
(Thơ Đoàn Văn Khâm viếng nhà sư Quảng Trí).
Sơn cao hải khoát thùy tận khổ
(Thơ Trương Tịch)
Thuỳ năng có nghĩa là “hà năng” (làm sao có thể) ở đâu
Tầm trục xuân phong tróc liễu hoa.
(Bạch Cư Dị: Hý đáp Mộng Đắc hoạ dương liễu chi)
Chữ tương trong câu thơ trên có nghĩa là “dữ” (cùng với). “Tương … đồng” có nghĩa là “dữ … đồng” (giống với, giống như …) như nghĩa chữ tương ở các câu thơ dưới đây:
Thời mệnh bất tương minh chủ hợp 
Bố y không nhiễm Lạc Dương trần. 
(Cơ Mẫu Tiềm: Tảo phát Đông Thượng môn)
“Bất tương minh chủ hợp” nghĩa là “bất dữ minh chủ hợp” (Thời mệnh không hợp với minh chủ). Hay.
Tâm tương lưu thuỷ đồng thanh tịnh,
Thân dữ phù vân vô thị phi. 
(Sầm tham: Thái Bạch hồ tăng ca) 
(Trái tim cùng trong sạch với dòng nước chảy
Con người như mây trôi không có điều thị phi(9)
Vậy cả câu thơ “Xử biến thuỳ tương Y Doãn đồng” của Nguyễn Trãi ta phải hiểu là: “ứng xử lúc nguy biến sao mà giống Y Doãn vậy”(10)
Câu 3 và 4:
“Ngọc kỷ di ngôn thường tại niệm,
Kim đẳng cố sự cảm ngôn công”.
(Lời trối trăng bên ghế ngọc vẫn luôn luôn để trong dạ. Lời khẩn cầu thế mạng xưa đặt trong hộp vàng, đâu dám nói đùa công minh) là nói viêc Chu Công nhận di mệnh của Vũ Vương và lời khẩn cầu thế mạng đặt trong hộp vàng.
Câu 5 và câu 6:
“An nguy tự nhiệm phù vương thất
Tả hữu vô phi bảo thánh cung”.
(Tự gánh trách nhiệm bảo vệ vương thất lúc nguy nan. Gần gửi bên cạnh cũng chỉ để giữ gìn thánh chúa), vừa để nói Chu Công, vừa như có ý phân trần.
Câu 7:
“Tử Mạch khỉ năng chiêm phảng phất”.
“Tử Mạnh” là tên tự của Hoắc Quang, một vi “Đại Tư mã” “Đại Tướng quân” của Hán Vũ Đế. Vũ Đế muốn lập người con thứ do bà tiệp dự họ Triệu đẻ ra, liền sai thợ vẽ bức tranh “Chu Công giúp Thành Vương triều kiến chư hầu” ban cho Quang, để lại di chiếu cho Quang phù ấu chúa. Chiêu Đế lúc lên ngôi mới 8 tuổi, mọi việc trong triều đều do một Quang quyết định. Quang lại là người ngay thẳng, giữ lễ, nhiều quyền thần chạy chọt, nhờ cậy đều bị Quang từ chối, nhiều âm mưu phế lập đều bị Quang đập tan. Uy tín, danh vọng của Quang chấn động khắp nước. Trong 13 năm nắm quyền trị nước, Quang đã làm cho “trăm họ đầy đủ”, “bốn cõi thần phục”. Chiêu Đế chết, Quang lập Xương ấp Vương Hạ. Nhưng ông này vô đạo, tàn ngược, Quang lại (học tập) Y Doãn, phế bỏ Hạ để lập Tuyên Đế, theo đúng lời khuyên của Điền Diên Niên: (Y Doãn giúp án phế bỏ Thái Giáp để giữ yên tông miếu xã tắc, được đời sau ca ngợi. Nếu tướng quân làm được như vậy thì cũng Y Doãn của nhà Hán Đấy”(11). Hơn 20 năm trời, hết giúp Chiêu Đế, đến lập Xương ấp Vương, rồi lại phế Xương ấp Vương, lập Tuyên Đế, sử đã khen Quang là người (chưa hề có lầm lỗi nào, làm việc rất thận trọng, chu đáo, rất được tín nhiệm). Xem ra, về mặt “Thành tích” giúp vua trẻ cái ông Tử Mạnh này, theo Nguyễn Trái, có phần còn “trội” hơn cả Y Doãn, Chu Công nữa.Điều này được tác giả khẳng định ở câu sau cuối cùng:
“Ủng Chiêu cận khả ấp dư phong”
Chữ 僅 trong tiếng Hán cổ độc là “cận”(12). Từ nguyên (tr.139): (Kỵ ân thiết, âm cận). Tân Hoa tự điển (tr.213) phiên âm là jìn. có chú nghĩa là: “tương cận” (gần); “cơ hồ” (hầu như) và ghi thêm. (Thường thấy trong thơ văn đời Đường như: Sơn thành cận bách tằng (Thành núi suýt soát trăm lớp), sĩ tốt cận vạn nhân (quân lính gần vạn người). Bài Sơ xuất Lam Điền lộ tác của Bạch Cư Dị có câu: “Tầm Dươngcận tứ thiên, Thuỷ hành thất thập lý”
Bài Chiêu quốc hàn cư có câu:
“Hoè hoa mãn, điền địa, 
Cận tuyệt nhân hành tích”.
Ở các trường hợp này, “cận” có nghĩa là “gần” và “hầu như”, không thể hiểu là “chỉ” được. Các văn bản Hán của chúng ta cũng dùng “cận” theo nghĩa này. Thí dụ trong câu “Phạm Quang Chước tự niệm niên cận thất thập, suy lão nhi truyền sở sinh nữ tử…” (Đông Ngạc xã Phạm Gia An phân thư A. 1685 tờ 24a) “niên cận thất thập” là “tuổi gần 70”. Nhóm Cúc Lâm cư sĩ(13) cuối thế kỷ 19, đã dịch câu “Tung tập dư nhận, Cận hữu tứ chu” thành: “Lưu Tung nối ngôi trừ nhuận vừa được bốn năm”(14).
Như vậy, người nước ta trước đây đã có trường hợp dùng chữ “cận” với nghĩa là “vừa”, “gần”, suý soát “hầu như”. Chúng tôi thấy khi diễn đạt ý nghĩa “chỉ”, “chỉ có”, “chỉ là” thì trong thơ Nguyễn Trãi đều dùng chữ chỉ:
Truyền gia sự nghiệp chỉ thanh chiên 
(Hạ nhật mạn thành)
Khách lý giang sơn chỉ thử tình 
(Quy Côn Sơn chu trung tác)
Trần thồ đê đầu chỉ tự lân 
(Loạn hậu đáo Côn Sơn cảm tác)
Vãng sự trùng tầm chỉ mộng hồn 
(Chu trung ngẫu thành)
Mông trung chỉ hữu hoa kham thiết 
(Đề Hoàng ngự sử Mai tuyết hiên)
Nhi kim chỉ ái sơn trung trú 
(Ngẫu Thành)
Chữ “ấp” 挹 có nghĩa là “rót”, “múc”(15). Từ nghĩa này mới dẫn tới các nghĩa, “hưởng”, “thừa hưởng”, “kế thừa”… như nói “ấp thanh huy”, “ấp đài quang”, “ấp xuân phong”, “ấp di phong”…
Ty đẳng nhĩ ấp thanh huy bội tăng cảnh mộ. 
(Lịch triều tạp kỷ Q.6 tờ 70b)
(Bọn tôi gần hưởng ánh trời, bội phần ngưỡng mộ)v.v….
“ấp dư phong”hay “ấp di phong” có nghĩa là “kế thừa di sàn tinh thần của người trước”, “kế thừa truyền thống cũ”. Như vậy, hai câu cuối ở bài thơ Chu Công phu Thành Vương đồ của Nguyễn Trãi:
“Tử Mạnh khỉ năng chiêm phảng phất. 
Ủng chiêu cận khả ấp dư phong”.
Có nghĩa là: “Có thể coi Tử Mạnh cũng na ná như Chu Công chăng(16) việc phò tá Chiêu Đế xem như nối gót được người xưa đó”(17).
Quật khởi từ ấp nhỏ Lam Sơn, tiến lên quét sạch bọn giặc Minh hung tàn cướp nước, sự nghiệp của Lê Lợi đã vượt xa Vũ Vương đời Chu. Nhưng theo truyền thống “Pháp tiên vương” trước đây, các triều đại phong kiễn vẫn thấy ở Văn Vương. Vũ Vương hình mẫu lý tưởng về một thời thịnh trị. Lê Lợi cũng có điểm giống Vũ Vương: Dùng võ công đánh kẻ bạo tàn, và cũng có con nhỏ kế vị. Trong hoàn cảnh đó, Lê Lợi mong muốn người phụ chính được như Chu Công là điều dễ hiểu. Nhưng với tư cách là kẻ nhận di mện phò vua nhỏ, không thể làm một vị “quốc thúc” như Chu Công, mặc dù hoài bão của ông, tài năng và đức độ của ông hẳn không thua kém gì. Ông tìm một tấm gương khác, sát với mình hơn, và có nói ta thì cũng là “danh chính”, “ngôn thuận”. Đó là Hoắc Quang: là một đại thần khác họ vua, Quang đã nắm quyền phụ chính suốt hơn 20 năm, làm cho “muôn họ đầy đủ”, “bốn phương thuần phục” đất nước thanh bình. Đấy là sự nghiệp của Quang và cũng là điều tâm niệm của Nguyễn Trãi. Có điều cung đình nhà Lê sau khi Lê Lợi mất không cho phép Nguyễn Trãi thực hiện hoài bão phò vua trẻ, xây dựng dất nước như ta đã biết. Ông đành ngậm ngùi lui về ở ẩn chốn Côn Sơn. Dầu vậy, lời ký thác sâu nặng của Lê Lợi hình như luôn ở sâu thẳm trong trái tim ông. Vì vậy, khi Thái Tông khôn lớn, nhận ra lẽ phải, cho gọi đến ông thì vị lão thần này xúc động khôn xiết, vội vàng đáp lại yêu cầu của ông vua trẻ ra phò vua giúp nước. Đọc bài biểu tạ ơn của ông khi được Thái Tông tín nhiệm(18) ta thấy tâm trạng hả hê rất hồn nhiên của ông, cứ như là Chu Công ở đất Đông Đô khi được ông vua trẻ đã hối lỗi là Thành Vương đón mời về Kinh Đô vậy.
HOÀNG VĂN LÂU

CHÚ THÍCH
(2) Súc ấn Bạch nạp bản Nhị thập tứ sử, Hán thư, Q.38 (từ đây trở xuống, gọi tắt là Hán thư).
(3) Đại Việt sử ký toàn thư, tập II, Nxb KHXH, H., 1971, tr. 214.
(4) Lê Quý Đôn: Toàn Việt thi lục, tập II, phần “Tiểu sử tác giả”.
(5) Đặng Trọng An: Nam Hà ký văn tập, Sách chép tay, ký hiệu VHv. 1789, Viện Nghiên cứu Hán Nôm, tờ 2b.
(6) Dẫn theo Từ nguyên, tr. 597.
(7) Nguyễn Trãi toàn tập, Sđd, dịch là “người thân tốt”.
(8) Nguyễn Trãi toàn tập, Sđd, tr. 300.
(9) Xem: Trương Tương: Thi từ khúc ngữ từ hối thích, Trung Hoa thư cục, 1957, tr. 317.
(10) Y Doãn là một ẩn sĩ, cày ruộng ở đất Sằn, được vua Thang mời ra giúp đánh Kiệt. Thang chết, cháu ông ta là Thái Giáp vô đạo, Y Doãn bèn đuổi ra đất Đồng ba năm. Sau đó Thái Giáp ăn năn hối lỗi, Y Doãn lại đón về và trao trả quyền trị nước.
(11) Xem Hán thư, sách đã dẫn, Q.38.
(12) Chữ này còn có âm đọc là “cẩn” và nghĩa là “chỉ”. Nhưng đó lại là cách đọc và nghĩa sau này Nguyễn Trãi toàn tập đã đọc và dịch theo âm và nghĩa đó.
(13) Nhóm Cúc Lâm cư sĩ gồm có Vũ Miên, Ninh Tốn, Nguyễn Lệ, Phạm Khiêm.
(14) Xem Tam thiên tự lịch đại văn Quốc âm, bản in năm Thiệu Trị thứ 5 (1845), tờ 12a.
(15) Toàn tập (tr. 300) dịch là “vái”, “nhường”. Nhưng chữ “ấp” với nghĩa “vái” có mã chữ 揖.
(16) Chữ “khỉ” ở câu này có hai nghĩa: Một là từ phản vấn, tương đương với chữ “há”, “lẽ nào” của tiếng Việt. Toàn tập dịch theo nghĩa này. Hai là biểu thị ngữ điệu cân nhắc, như chữ “kỳ”, tương đương với chữ “chăng” của tiếng Việt. Chúng tôi dịch theo nghĩa thứ hai.
(17) Hai câu này Toàn tập dịch là: “Tử Mạnh há có thể xem phưởng phất được chăng. Cái việc ủng phò Chiêu Đế cũng phải nhường đứng dưới gió”.
(18) Nguyễn Trãi toàn tập, Sđd, tr. 204.

In tin Lên đầu tin

Phản hồi bài viết:

Tiêu đề:  
Nội Dung:  
Họ tên:  
Email:  
(*: Cần nhập đủ thông tin)

Danh sách Phản hồi: