Biểu Quyết

Bạn biết website của chúng tôi qua kênh thông tin nào?

  •   Internet
  •   Báo chí
  •   Nghe bạn bè giới thiệu

Biểu quyết

Xem kết quả

Số lượt truy cập: 11401647

Đang online: 80

» Văn & Thơ » Văn Xuôi

BÙI BÌNH THI

-- Ngày cập nhật:31/12/2016

Năm sinh 1939; Quê quán: Thôn Bật Chùa, xã Liên Bạt, huyện Ứng Hòa, Hà Nội; Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam. Tác phẩm chính: Mùa mưa đến sớm; Mặt trời trên đỉnh thác; Đường về Cánh Đồng Chum; Hành lang phía đông; Nụ tầm xuân; Sau những giọt nước mắt;…

 

Nhà văn Bùi Bình Thi

 

RUỘNG TREO

 

Tôi là người gắn bó với quê hương. Làm việc ở Hà Nội, nhưng hễ khi nào có đôi ba ngày rỗi rãi, là tôi về quê nghỉ ngơi trà dư tửu hậu với mấy ông anh, mấy ông chú. Vì quê tôi cách Hà Nội cũng gần, chừng hơn chục cây số, nói cho gọn thì chỉ một cuốc xe bình bịch (bây giờ gọi là Honda). Và, trong hơn chục cây số này, con đường cái quan liên tỉnh đã băng qua một cánh đồng rộng lớn, ước độ vài trăm hécta mùa lúa nào, mùa hay chiêm, lúa cũng tốt bời bời. Mỗi lần ngồi Honda đi qua, tôi đều cho xe chạy chậm chừng dăm bảy cây số, để mà thỏa chí tang bồng mà thưởng ngoạn cái màu xanh khi lúa đang thì con gái. Cứ ngẫm mà lại thấy các cụ ta ngày xưa giỏi thật cơ: lúa trước khi vào làm đòng để mẩy hạt, thì gọi là “lúa đang thì con gái”. Có lẽ không thể có cách gọi nào chỉ về lúa đang ở vào những ngày như vậy mà hay hơn. Và tôi nghĩ, trong cái màu xanh của thiên nhiên, thì màu xanh của lúa đang thì con gái là đẹp nhất, bởi ngay trong cái màu xanh tuyệt diệu ấy nó gợi đến sự ấm no và đầy đủ trong cái cơ ngơi của một đời người.

Thế rồi bẵng đi vài năm, tôi đi biệt phái tại Sài Gòn, đành xa quê. Đến ngày trở về, chỉ sau mấy ngày thu xếp việc nhà, việc cơ quan, là tôi lại một cuốc bình bịch về quê. Nhưng rồi lúc xe tôi bằng qua cánh đồng ấy, thì không còn màu xanh của lúa nữa, mà rặt những màu xanh nham nhở của vô thiên lủng các chủng loại cỏ: Cỏ lùng, cỏ lông gà, cả cỏ lác, những mảnh ruộng nhấp nhô, cứ thế rộng ra tít tắp đến tận chân bờ tre xa đằng kia, và lác đác trên cánh đồng cỏ dại ấy lố nhố một vài cây cọc gỗ vuông sơn trắng trên đầu cây cọc nào cũng có một tấm bảng nhỏ, rõ đậm mấy dòng chữ vắn tắt như sau: “Đất dành cho dự án KCN.A!”. KCN là gì vậy? Đầu óc tôi lởn vởn nghĩ, à phải về tới tận quê rồi, mới nghĩ ra KCN là khu công nghiệp. Sau một tuần trà hoa cúc, tôi hỏi anh tôi:

- Làng mình vẫn làm ruộng đấy chứ anh?

- Ruộng treo rồi, tỉnh huyện họ treo ruộng của mấy làng, đến hơn chục làng trong đó có làng mình, mà toàn loại ruộng nhất đẳng điền cả, bờ xôi bãi mật cả đó, để cho cỏ mọc, vô số các thứ cỏ, để coi cho nó đẹp cái con mắt. Đồng thời mai này xem có thằng tầu thằng tây nào nó đến đầu tư làm khu công nghiệp không? - Anh tôi nói một hồi.

- Vậy là chuyển đổi cơ cấu cây trồng đấy, phải không anh?

- Đúng rồi! Trước trồng lúa, các loại hoa màu; dư dật, năm nào dân làng cũng thóc lúa khoai lạc đầy bồ, đầy kho, bây giờ tỉnh huyện họ chuyển qua trồng ống khói. Rồi đây ống khói sẽ mọc lên tua tủa. Dân làng ta với mấy làng nữa cứ ngửi khói là no rồi, thế đấy! Ha ha ha!

Anh tôi ngửa cổ cười vang. Tôi nói và trong lòng một nỗi lo thật đầy cứ trồi trội lên.

- Cánh đồng dành cho dự án Khu công nghiệp đó quy hoạch đã mấy năm nay rồi, anh?

- Cũng từ ngày chú vào Nam làm việc đấy, hơn ba năm! Suy ra là chín mùa lúa, mỗi năm ba vụ, không kể các hoa màu khác…

- Trời đất! - Tôi kêu lên, quả thật chỉ còn biết kêu lên thế thôi… Anh tôi tiếp tục, giọng đầy sự đùa cợt vốn là bản tính của anh, một nông dân kỳ cựu:

- Dân làng quê chú bây giờ giống y xì cán bộ ngoài tỉnh huyện nhá, oai ra phết! Oai hơn cóc!

- Là sao anh? - Tôi thắc mắc, đầu óc tôi tịt mít.

- Chú chưa hiểu cũng phải, vì sự việc quá mới, là cứ tuần tuần, tháng tháng, ngày ngày lũ lượt ra chợ mua gạo mậu dịch về làm bữa, chẳng còn phải chân lấm tay bùn nữa.

- Thế không làm gì hở anh?

- Thiếu gì việc, trong khi chờ cho ống khói khu công nghiệp mọc lên, để mà vào đó kiếm việc, thì mạnh ai nấy làm, nào ra tỉnh đi làm ô sin, nào ra những chỗ ngã ba ngã tư ngoài huyện, tỉnh ngồi lê trong tay có cưa đục, để xem ai người ta thuê thì làm cho họ mà lấy tiền “vất vả nhà quê không bằng ngồi lê thành phố” mà chú.

- Họ lấy ruộng, lấy cánh đồng làng mình, thì họ có bồi thường cho mỗi nhà chứ anh, bồi thường bằng tiền hay bằng gì, và nhà mình đây với bà con xóm mình dùng tiền đó làm gì? - Tôi đành dốc bầu tâm sự với anh tôi.

- Bằng tiền! - anh tôi buông xõng - thì họ chỉ có tiền! Còn anh chú đây với bà con lối xóm trong làng, có tiền nhà nào chắt bóp thì cơi lại nhà cơi lại bếp, nhà nào chiều con có con học trên tỉnh trên Hà Nội, thì mua cho chúng xe Hon đa. Chơi họ. Chơi số đề, đề đóm ấy, rồi nhà nào con cháu xin được chỗ làm, mà giờ xin được chỗ làm đều phải có đút tiền mới xong. Việc tầm tầm thì dăm bảy triệu, việc tốt chỗ tốt thì vài chục triệu. Có nhà, gặp phải thằng đàn ông mê cờ bạc, xóc đĩa, tổ tôm thì vài ba đận máu me là hết sạch. May mà ở nhà quê nhà nào cũng có mảnh vườn, vì vườn của mỗi nhà có rộng cũng chỉ mấy chục mét vuông, trăm mét vuông là kịch trần, thì thâm canh ở đó mà sống. Chỉ có điều trước đây còn ruộng thì có bát cơm đầy. Còn giờ bát cơm vơi, vậy thôi. Quanh quẩn trong những cái mảnh vườn ấy mà hết việc, thì con gái làng lê lên tỉnh đầu quân vào các nhà hàng Karaokê, con giai thì đi cửu vạn tại các bến sông, bến tàu xe. Rồi thỉnh thoảng làng xóm lại xôn xao vì nhà nọ nhà kia có con gái bỗng dưng vác cái bụng tướng về nhà, rồi một đứa trẻ không bố ra đời. Cũng phải thôi, vì làm trong nhà hàng karaokê, thì bọn con gái đâu có biết hát. Thế nên đành phải để cho khách nó hát bằng hai tay, cớ sự mới ra như vậy.

- Ôi chao! Tôi kêu lên - Giá mà các khu công nghiệp đó nó có đầu tư sớm nhỉ, thì đám trai gái làng mình, số lao động dư dôi đó còn đầu quân vào đó mà làm lụng, mà sống cho đáng sống chứ, anh nhỉ.

- Thì vưỡn! Nhưng đã ba năm chầu hẫu ra đó rồi, có ai nó bén mảng tới bỏ tiền ra đâu! Nên dân làng mới gọi là “ruộng treo” nó là vậy.

 

 

CÀ PHÊ TRONG MỘT CÕI NHÂN GIAN

 

Trong phổ hệ của ẩm thực ngày xưa, người ta hay nói về chuyện uống trà. Người ta còn viết nhiều sách để nói về cái ích của sự uống trà, cái thú vị và cái kỳ diệu của việc uống trà. Có một công nghệ thật là kỹ càng, cẩn thận về việc chế tạo ra ấm chén để phục vụ cho sự uống trà. Riêng chuyện này, cũng có nhiều sách lắm. Rồi sự uống trà đã nâng lên mức cầu kỳ. Nhà văn Nguyễn Tuân đã tả lại một hành khất xưa kia con nhà phong lưu, nay thất thế, khi ông ta vào xin ăn ở một nhà giàu, chủ nhà mời ông ta một chén trà, uống xong, ông ta thưa rằng: “Trong ấm trà này có lẫn một mày trấu, chỉ một mày trấu thôi…”.

Đấy là nói chuyện trà khô, thế còn trà tươi. Tôi thú trà tươi hơn trà khô đã tẩm ướp. Ở đời cái gì cũng vậy, cứ phải màu mè, gia vị để che đậy cái cốt lõi là cái thứ xem chừng đã kém cỏi. Thế nên, đi ăn cỗ tôi chỉ thích ăn thịt luộc. Gắp miếng thịt luộc vào miệng, tức khắc hình dung ra ngay cái con lợn ấy ra sao. Trà tươi ở miền Nghệ Tĩnh có hẳn một phong tục tối cổ! Buổi chiều, bà con đi làm đồng về, qua vườn vặt một nắm trà tươi còn cả cọng, tới nhà liền hô lên: “Nác mới! Nác mới!”. Thế là khi ấm trà tươi được hãm, đó thường là ấm tích to, xách đặt giữa sân trên chiếc chiếu đôi, bà con lối xóm vào mỗi người chiêu một bát.Giời ạ! Hãy cứ làm quần quật một buổi ngoài đồng đi, đến lúc xẩm mặt lá, ngồi bên nhau, cùng chiêu thật từ tốn những ngụm trà tươi, sẽ thấy thần tiên đến đâu.

Vậy là có một thứ văn hóa trà, thế trà tươi thì sao, cũng vậy, có một thứ văn hóa trà tươi, tôi yêu cái văn hóa này hơn. Còn cái văn hóa trà (khô) kia chỉ dành cho người già, sống phong lưu và ưa tĩnh tại tính cách lười nhác. Còn văn hóa trà tươi là của người lao động, đôn hậu và chất phác.

Khi đã nói đến một thứ văn hóa, như văn hóa trà (khô và tươi) thảy đều thấy có một nội dung của văn hóa ấy. Ta có ngoài trà ra như văn hóa cà phê, văn hóa Côca Côla - Pepsi. Thế có văn hóa nước chanh không, có đấy. Vả nữa, khi một loại đồ uống trên đây, có chữ văn hóa kèm theo, thì cũng có nghĩa là nó tạo hẳn  ra được một cõi, tạo hẳn ra được một tính cách, để từ đây người ta gọi nó là “một cõi nhân gian”.

Vậy mấy cái cõi nhân gian này thì hình dung ra sao? Văn hóa trà (khô) đã tạo cho con người sự điềm tĩnh, giữ được chữ “nhẫn”, thỏa nguyện trong cô đơn cao khiết, thích ẩn dật. Văn hóa cà phê tạo cho con người sự sáng suốt trong hưng phấn dịu dàng, yêu hòa đồng nhưng lại cũng quý những thời khắc cô đơn và đặc biệt cái văn hóa này thường dẫn con người vào sáng tạo nên những cái có ích. Còn văn hóa Côca Côla, Pepsi tạo tính cách con người ồn ào, năng động, nhưng nông nổi và hiếu thắng. Cả văn hóa nước chanh nữa, cũng tạo nên cho con người một vẻ riêng, đó là sự vui tính nghịch ngợm và ưa bầy đàn, thích mình là sự chú ý của người khác.

Tôi muốn trở lại cõi văn hóa cà phê. Cái văn hóa này còn có một đặc tính đáng quý là nó gợi cho con người hành động và đưa dẫn con người hành động đó đến một hệ quả tốt đẹp. Người nào mà cứ đều đặn mỗi ngày có hai tách cà phê, sáng và chiều, là người tự trọng, rất biết mình, có tâm hồn và cá tính. Người lỗ mãng phàm phu tục tử không biết đến cà phê. Khi một người có ý định uống cà phê thì bao giờ cũng có ý định làm được một cái gì đấy, vốn là sản phẩm của não bộ. Đàn bà uống cà phê ưa sống độc thân và tự chủ cao. Đàn bà mà nghiện cà phê, thường là người thích tiện nghi và ưa lý sự, cũng hay lắm điều. Người đàn ông cao tuổi bao nhiêu nghiện cà phê bấy nhiêu là ông già đa tình. Thích ngắm các cô gái trẻ. Còn đàn ông đang tuổi làm việc, sáng tạo mà nghiện cà phê thì lại ghét và xa lánh đàn bà vì trong tâm trí họ lúc nào cũng bề bộn những ý định mới mẻ, lúc nào cũng bận bịu để đạt được tới cái đích là được nhìn ngắm bằng mắt các sản phẩm do mình tạo ra. Còn như đàn ông không phải trong giới hoạt động bằng cảm xúc và trí tuệ mà nghiện cà phê, thường là người tàn nhẫn, lạnh lùng, ích kỷ và bạc bẽo. Tôi chưa thấy người trẻ tuổi nào nghiện cà phê, còn cái thứ cà phê kèm theo đá thì ai gọi là nghiện. Đấy là loại ăn thùng uống vại. Thế nên văn hóa cà phê là chỉ để dành cho những ai từng trải cuộc đời, là vào cái tuổi “tứ thập nhi bất hoặc”. Chứ oắt con mà bảo nghiện cà phê thì chỉ là cái đồ làm đỏm. Vậy là văn hóa cà phê tuyển chọn quần chúng riêng cho nó. Mở ra một cõi nhân gian riêng cho nó. Như văn hóa trà, người nghiện cà phê thích có bạn tâm giao và theo tôi đấy là loại người đáng mến. Họ yêu cuộc đời, họ có vẻ bơ thờ thế đấy nhưng trong tâm tính họ lại là người dấn thân. Yêu cái văn hóa cà phê đến mức nghiện nó, thường chỉ có đàn ông, nhưng một bà nào mà nghiện cà phê thấy đều là người khó gần và không hiểu ra làm sao, vị nữ ấy thường ghét đàn ông. Nếu vị ấy có chồng thì ông chồng ấy thật diễm phúc, nhưng cũng phải thật sự dư sức để mà chan được cho đầy tới bến bờ của tình yêu và nhục cảm của vị nữ ấy.

Bấy nhiêu năm trong tôi, hễ có một ai để lại được trong ký ức của mình những niềm đáng nhớ thì đều là những tín hữu của văn hóa cà phê.

Ông ngoại tôi chẳng hạn (cụ Nguyễn Đức Thục) là thân sinh ra nhạc sĩ Nguyễn Đức Toàn - giải thưởng Hồ Chí Minh bây giờ. Ông là một nhà điêu khắc thời danh vào những năm đầu thế kỷ 20, tác giả của bức tượng đồng đặt giữa vườn hoa Canh Nông (mà bây giờ là vườn hoa Chí Linh). Sau Cách mạng Tháng Tám bức tượng này không còn. Hình ảnh của ông trong tôi là một ông già lịch lãm, vạm vỡ vẻ mặt trầm tĩnh, với chiếc khăn xếp trên vầng trán cao và rộng, mặc áo the đen dài, quần trắng rộng ống với đôi giày da mốt nhất thời ấy. Ông có hai bà, bà ngoại tôi là cả. Mỗi kỳ nghỉ hè, ông nặn được hai bức tượng, mỗi bức ông nặn được 500 đồng bạc Đông Dương, số tiền đó vừa đủ để mua một căn nhà phố ở Hà Nội. ngày nào cũng vậy, 7 giờ sáng ông tôi xuống gác ngồi vào bên chiếc bàn tròn, mặt bàn khảm đá cẩm thạch và tựa lưng vào một trong bốn chiếc ghế, chiếc ghế kiểu cổ trong phòng rộng là phòng để ông tôi tiếp khách: Bộ bàn ghế kiểu cổ này cả nhà, hai bà, họ hàng thân tộc và chín các bác, các cậu, các cô tôi không ai được phép ngồi. Ông tôi chờ chủ quán cà phê cách nhà ông tôi ba nhà. Lúc chủ quán đem cà phê qua, tách cà phê đựng trong một hộp hình trụ bằng gỗ quý sơn son thếp vàng, anh ấy mở nắp cầm tách cà phê đặt trong đĩa sứ men thời Lý chỉ dành riêng cho ông tôi ra bàn, ông tôi nhón một viên đường rồi chậm rãi thả vào tách cà phê nghi ngút hơi và thơm lừng. Sau giây lát thong dong cầm cùi dìa khuấy nhẹ nhàng, ông tôi vừa mơ màng ngắm tôi vừa nhấp từng ngụm nhỏ. Ngày ấy tôi mới lên năm (mẹ tôi bảo vậy) tôi là cháu ngoại đầu của ông tôi mặc dầu mẹ tôi là con gái thứ hai của ông nhưng vì bà rất đẹp, đẹp nhất trong sáu chị em nên ông tôi cưng chiều lắm. Vì thế sáng nào ông tôi cũng cho tôi ngồi trên chiếc ghế đối diện với ông. 7 giờ 45 ông tôi ra cửa và lên xe nhà, cho anh kéo xe đưa đến sở làm, ấy là trường Mỹ thuật Đông Dương. Mẹ tôi kể, có hôm vừa uống xong cà phê thì anh chủ quán vào đem tách về, ông tôi hỏi: “Hôm nay anh bận gì mà để người khác pha hử?”. Anh chủ quán đầu cúi cúi: “Bẩm cụ bỏ quá cho con ạ. Đúng là sáng nay con vừa ở quê lên”. “Không sao, tôi hỏi cho biết thôi”.

Ông tôi chỉ đến Sở vào buổi sáng các ngày trong tuần, còn buổi chiều ông tôi làm việc trên gác. Một căn gác rộng mênh mông lô nhô đầy tượng, có đủ các hình hài, kiểu dáng, có cả những bức tượng bọc kín vải ướt bên trong là những bức tượng đã hoàn thành. Vắng ông, tôi không dám vào vì chỉ nhìn vào những khuôn mặt tượng thì đã thấy bủn rủn rồi. Mẹ tôi bảo giá tiền của mỗi bức tượng đó bằng giá một tòa nhà ở Hà Nội. Mẹ tôi luôn luôn được ông tôi bảo ngồi để làm mẫu cho ông nặn, hoặc đứng và tay cầm cái gì đó. Có hôm ông tôi mải mê nặn đến nỗi bà ngoại tôi vào nhìn thấy mẹ tôi một cái, bà tôi đã kêu lên với ông tôi: “Kìa ông, con Bình nó sắp ngất kia kìa! Ông cho nó nghỉ thôi… nó đang có nghén mà”.

Thế là ông tôi vội vàng thu dọn, và bà ngoại tôi thì gọi người giúp việc lên dìu mẹ tôi ngả lưng xuống chiếc ghế đệm. Lúc đó, ông tôi mồ hôi mồ kê cởi chiếc tạp dề che từ cổ trở xuống và lấm lem những đất là đất, ông ngồi xuống một chiếc ghế có tựa cao quá gáy và lại nhấp từng ngụm cà phê trong chiếc tách đựng trong hộp gỗ hình trụ. Một buổi sáng làm việc, ông tôi uống đều đặn ba tách cà phê và chỉ khi còi thành phố vang lên là lúc 11 giờ ông tôi mới nghỉ, hai tay sau lưng, ông tôi đi đi lại lại trong phòng ngắm nghía từng bức tượng, lúc ấy luôn có tôi lóc nhóc bên chân ông, chốc chốc ông lại cúi xuống hỏi tôi: “Thi, cháu có thích ông già này không; cháu thấy ông này có buồn cười không?”. Mẹ tôi ngồi gần đấy khẽ cười nói nhỏ: “Ông không biết chứ, hôm qua ông đi làm nó hai tay xoa mặt ông già rồi nó chịn áo vào lấm bê lấm bết”. Ông tôi cười vang: “Phải vậy chứ con”.

Liền trong ba mươi năm, ông tôi đã tậu đầy đủ cho chín các bác, các cậu, các cô tôi mỗi người một tòa nhà bằng tiền bán tượng của ông. Cũng từng ấy năm, đều đều sáng ba tách cà phê, chiều hai tách cà phê. Ông tôi không làm việc buổi tối. Buổi tối, ông tôi nằm đọc tất cả các báo và tạp chí thời danh xuất bản thời bấy giờ. Cho đến khi ông tôi mất, năm ông 68 tuổi. Đấy, một tín hữu của văn hóa cà phê đã trung tín với cà phê đến như vậy đấy!

Hà Nội căng thẳng những năm đánh Mỹ. Vậy mà, có lẽ chưa thời nào như thời ấy văn hóa cà phê lại có thể nhơn nhơn tồn tại với nhiều màu sắc và dáng vẻ. Có cà phê mỹ thuật (còn gọi là cà phê Lâm); cà phê văn, cà phê nhiếp ảnh, điện ảnh (thường gọi là cà phê điện – nhiếp), cà phê cổ vật (còn gọi là cà phê vò-lọ); cà phê nhiệt tình (báo chí); cà phê xích lô; cà phê ba gác; cà phê cá độ, cá độ bóng đá và nhiều loại cá độ khác.

Sự hình thành các kiểu quán cà phê của văn hóa cà phê là hoàn toàn tự nhiên. Trước hết là một chỗ ngồi tiện nghi của phong cách cà phê. Uống cà phê rất khác với uống nhiều loại khác, cũng đòi hỏi những điều kiện mà thiếu nó không còn gì là sự thưởng thức. Bởi vì những người uống cà phê, có nhu cầu uống cà phê bao giờ cũng là những người đang ấp ủ một công việc gì đấy hoặc là đang làm việc gì đó mà trí tuệ và cảm xúc thường được huy động ở mức cao nhất mà người ta thường gọi là thăng hoa (kể ra thì cũng có vô số người đến tiệm cà phê chỉ uống vì sở thích và nhàn hạ). Với nhu cầu kể ra ở trên thì quán cà phê luôn có một đòi hỏi bức thiết đó là không thể quá chật chội. Từ bàn này đến bàn kia cần một không gian để có nói cũng không sang được tai nhau (trừ người nói muốn cho người khác nghe). Sự tĩnh tại, sự yên ả với một chúng không gian, ấy là sơ sơ cái tiêu chuẩn của văn hóa cà phê. Còn các quán cà phê theo nghề thì sự hình thành của nó cũng lạ lắm. Như tự nhiên, những anh cùng nghề tìm đến nhau theo nhu cầu. Riết mãi thành quen và nghiện. Cánh nhà báo ta, cốt lõi đó là nghề săn tin tức nên luôn cần tụ tập. Quán cà phê “nhật trình” tọa lạc tại một phố lớn cây rậm mát. Trong một khuôn viên nhỏ mỗi bề chừng 30m và nhiều cây tán lá sum suê, bàn ghế là những khúc gỗ to nhỏ. Ở đây người uống cà phê thưởng thức thì ít và vểnh tai lên nghe ngóng thì nhiều. Sự tung tin mà kiểm chứng phê thì đây là loại quán ồn ĩ nhất, náo nhiệt nhất và cũng sôi động nhất. Không ai đến đây để nhâm nhi cà phê và ngồi lâu cả, thế nên vào đầu giờ sáng thì đông đúc náo nhiệt, nhất là những khi có các sự kiện về nhân vật và chính trị. Một lúc quán bỗng vắng teo, còn vài ba anh cắm cúi viết trên đầu gối. Đó là mấy ông phóng viên nhà chật, cơm niêu nước lọ. Một chốc sau, quán lại ồ ạt người. Các tin tức bay tung tóe như bươm bướm cùng với mùi cà phê ngào ngạt, ở đây khách ít uống phin nhất. Trong quầy, chủ quán có một dãy bình pha to tổ bố, và thay nước liên tục, bếp điện đỏ suốt ngày. Và cũng ở đây mới có uống cà phê đá cốc to. Cũng chỉ sau ngày giải phóng miền Nam thì các quán cà phê ở Hà Nội mới du nhập từ trong Nam thứ cà phê đá cốc vại. Ngày xưa mà ở Hà Nội uống cà phê bằng cốc nhất là lại cho đá nữa thì cái mặt không thể chơi được. Sự uống cà phê thời ấy là của những người kỹ tính, có học, một tư chất hơn người. Còn bây giờ thì chẳng kể làm gì.

Đối lập với quán cà phê “nhật trình” là cà phê “mỹ thuật”. Mới đầu là chỗ của các họa sĩ, những sinh viên trường Mỹ thuật, đại học, trung cấp và mấy anh thạo nghề kẻ biển. Về hội họa, nước ta được tiếp từ nguồn Pháp, một nước từ đời nào tới bây giờ hội họa vẫn đứng hàng đầu. Thế nên các họa sĩ ở nước ta trong thế kỷ 20 nửa đầu và nửa cuối nữa có thể nói so với thế giới, với hội họa của thế giới chẳng những không kém mà có nhiều họa sĩ còn hơn ấy chứ, đương nhiên phải trừ Picatxo, Matít, Rămbơrăng… ra. Tranh của ta cực đẹp. Các họa sĩ ta như Nguyễn Tư Nghiêm, Nguyễn Sáng… hội họa thế giới kể như ngang và quán cà phê mỹ thuật (cà phê tranh) vẫn là quán sáng giá nhất Hà Nội bấy giờ. Quán ở phố Lý Thái Tổ, một căn phòng rộng, bốn bức tường toàn tranh các cỡ, to thì bằng mặt bàn bốn người ăn, bé thì bằng khay nước. Nhìn không chán mắt. Trong quán, cố định khách, nếu có đông hơn cũng không bao nhiêu vì theo các họa sĩ đến uống thường là các học trò, những kẻ ái mộ tranh hoặc cả những tay buôn tranh…Và ở đây duy nhất là một quán cà phê ít tiếng người nhất. Các họa sĩ vốn là những người kiệm lời. Do cái nghề, ngồi vẽ chỉ phải đối diện với tấm toan và cứ thế cả một đời thì cần gì phải dùng đến lời. Bác tôi – họa sĩ Trần Văn Cẩn, ông gọi bà ngoại tôi bằng cô ruột, ông là một điển hình của sự kiệm lời. Tôi thường đến thăm ông, tôi chào ông, ông chỉ mở to mắt, mắt ông to và luôn nhìn thẳng, ông im lặng gật đầu và giây lát nhìn như đóng lấy tôi. Thế là tôi tự tìm vào một chỗ, còn chỗ ông ngồi, trên bàn thấp ngang đầu gối là một tách cà phê. Vẫn lặng lẽ như vậy, ông cắm cúi pha cà phê cho tôi. Hai bác cháu mỗi người một phin, rồi ai nấy uống và im lặng ngắm tranh. Ông cũng hay ra quán cà phê đằng Lý Thái Tổ, tôi có hôm tạt vào thấy ông, tôi chào, ông cũng gật đầu và tôi ngồi lấy một chỗ, ông Lâm bê ra cho tôi một tách nghi ngút, còn bác tôi thì chìa một bàn tay ra ý bảo tôi cứ tự nhiên. Hôm nào quán cũng kín người và hết thảy ai nấy đều ngồi nhâm nhi tách cà phê và im lặng, cứ hệt như tất thảy đều là những bức tượng ấy. Cũng có khi có tiếng người, đấy là mấy ông nhà văn theo các họa sĩ ra đó uống, nhưng rồi cũng chỉ có nhà văn nói họa sĩ nghe. Nhà văn muốn tìm chỗ sả, gặp cánh họa sĩ thì quá quý vì họ sẵn sàng vừa ngậm cà phê trong miệng vừa lặng lẽ lắng nghe chăm chú.

Cũng có giới khác lạc vào đấy, là mấy ông họa sĩ của giới trang trí sân khấu, lại dẫn theo dăm ba ông diễn viên râu tóc phát khiếp, thế rồi lại chỉ những vị ấy nói (loại người mà cả đời nói to kia mà), cho nên vừa vào quán các bố đã tranh luận sôi nổi, rồi lại còn diễn mấy đoạn kịch để thị phạm cho nhau. Còn các họa sĩ thì vẫn im lặng ngắm nhìn và lắng nghe. Bác tôi và tôi uống xong, tôi lấy tiền trả, ông đưa tay ra cản, để ông trả, rồi như lúc vào ông lặng lẽ ra về. Tôi đã nhiều lần ở với ông trong nhiều ngày, và tôi rất khoái cái sự im lặng này.

Cà phê văn lại có cái thú vị khác cà phê tranh, ở đây (quán phố Bà Triệu), vì các nhà văn vốn lười đi xa, nên phố này thật tiện, quán do một họa sĩ họ Vi mở vì ông thân với cánh nhà văn. Gian quán hình chữ nhật. Các khách văn vào đây ngồi theo nhóm, tức là số ưa thích hợp cạ nhau. Tỉ như mấy anh hay khích bác thì tụ bạ lại, để đồng tâm mà kể xấu anh vắng mặt. Những anh thích yên thân thì quây một nhóm, ngồi hẳn ra một bàn và nói năng rầm rì, se sẽ. Nhóm văn lính (con cưng) thì ra điều ta đây, nên trông anh nào cũng đầy đủ khâu oai. Và khi nào cũng theo bàn sát vai, chỉ có điều họ luôn lớn giọng đại ngôn. Mấy ông văn già thâm trầm, ngồi tách hẳn một chỗ khuất và nói năng cười đùa thật vui thật thoải mái. Cũng giống quán cà phê tranh, cà phê văn thường ngồi lâu, và cũng giống cà phê tranh, ở quán cà phê văn các họa sĩ, các nhà văn thường chỉ cố định một ghế một bàn. Hễ ai đó vào ngồi thoải mái, liền có người của chủ quán đến nhắc khẽ vào tai: “Phiền bác qua ghế bên, ghế này của bác Tô Hoài, tí nữa bác ấy đến…” hoặc là: “Phiền anh qua ghế đằng kia, ghế này của ông Nguyễn Tư Nghiêm rồi…”.

Các họa sĩ, nhà văn mỗi anh có hẳn một ghế, không được ai ngồi vào, rồi lưng tường cách mặt ghế một vài gang thẳng đứng cũng ám một chỗ đen đó là chỗ tóc hoặc mũ của các ông ấy tựa vào. Còn nữa, ở quán cà phê văn và cà phê tranh có cái thú khác. Bên văn, thì thế nào cũng có ông đến uống cà phê rồi hí hoáy viết vào sổ kê trên đùi; Bên tranh, thì thế nào cũng có ông mặt đăm đăm thẳng, hai mắt mở to nhìn mông lung, bên tay phải, ngón trỏ thò ra và nghí ngoáy trên đùi, ấy là ông đang phác thảo đấy, cánh tay kia vẫn nhắc đều đặn tách cà phê. Và nữa, vào hai quán này, các cụ không ai uống một tách cả và cũng không ai uống hết mà phải gọi. Việc tiếp thêm chén là hoàn toàn của chủ quán. Chủ quán tiếp cà phê đầy, nghi ngút hơi ra bàn luôn đúng lúc. Uống mỗi người mấy tách cũng đều có ngữ cả. Các khách hết tiền trả, chủ quán tích lại cuối tháng các họa sĩ lại đem tranh đến trả nợ đậy. Còn các loại quán cà phê khác như cà phê điện nhiếp, cà phê vò lọ…thì chả kể được.

Để cho thêm “xôm”, bài này tôi xin sơ qua quán cà phê điện nhiếp. Quán cà phê này tọa lạc tại phố Bát Đàn trong một tòa nhà Tây cổ đầu thế kỷ. Ở đây có đủ thành phần, đạo diễn, quay phim, ánh sáng và biên kịch. Màu sắc của các vị vô cùng phong phú. Kia là ông khách thường xuyên, chỉ mới vừa ba mươi mà râu để dài như Lép Tôn-xtôi, có hôm ông còn mặc áo the đội khăn xếp, quần ống lá tọa. Ngồi nhìn một lát, hóa ra lại thấy hay hay. Có ông mặc một bộ chàm dân tộc Mông và có ông thì dưới quần Tây, trên là áo của dân tộc Êđê, một miếng hoa văn đỏ chói hình chữ nhật trước ngực. Kiểu cách ăn uống của các ông ấy cũng khác lạ. Thường là cho lên miệng từng cùi dìa cà phê, trong khi cười nói như sấm như gió.

Tôi đã nhiều lần uống cà phê xích lô, ba gác. Cũng rất thú vị, đó là những hàng chè chén kiêm cà phê. Các “ông” xích lô ấy có đủ hạng người, cả thầy giáo đi chạy thêm, lương ba cọc ba đồng không dạy thêm được vì dạy thêm cũng có cánh vế thì chỉ có cách thuê lấy chiếc xích lô mà đi cho khỏe. Thời khóa biểu là giờ tàu, giờ ô tô. Chỗ hàng tôi hay ghé, có một ông giáo cấp 2, vạm vỡ, mồ hôi mồ kê… cứ đúng 2 giờ là ông ghé lại và lặng lẽ đăm đăm uống một tách nóng.

Chủ hàng một bà nạ dòng ân cần rót cà phê đã lọc sẵn ra xoong con đun sôi và cho vào một cái cốc nhỏ, ông ngoáy nhẹ nhàng và chiêu làm một ngụm đầy rồi lên xe, đạp chở khách đến tối mịt. Hôm nào nghỉ, không chở khách, ông cũng ra đấy, tôi với ông lại đàm đạo. Ông am hiểu nhiều và từng trải, con cái phương trưởng, đều đại học ra và đều làm nhiều nghề có tiền, vậy mà ông vẫn cái nghề này, ông giải cho tôi thắc mắc, ông bảo: “Nó có cái thú của nó. Thứ nhất khỏe người, thì người ta còn đua xe đạp để cho nó khỏe kia mà. Còn tôi một ngày tôi đi trăm cây số có dư. Về ngủ ngon, không phải tơ bận điều gì. Lên lớp giảng một mạch rồi cắp cặp về. Các con tôi rất ngoan, chúng nó bảo chúng xin chu toàn cho tôi, vì tôi mồ côi vợ mà, nhưng ai lại xin tiền con bao giờ”.

Tôi đâm mê cái quán này, vì một lẽ cái đời sống ở đây luôn hôi hổi và chân thực quá. Các ông đạp xích lô thường một lứa, ngót năm mươi đến sáu mươi. Cũng có ông bảy mươi vẫn vâm như thợ cày. Họ uống cà phê theo cốc, cái cốc nhỏ, thường vào gần trưa hoặc đầu giờ chiều. Tôi hỏi họ: “Cà phê ích gì cho cuốc đạp của các bác?”. “Rất ích, không bị khát nước, lâu mệt, mồ hôi ra đều và tâm thần sảng khoái”. “Trời ạ, thế thì còn gì bằng”. Thảo nào mà cái số “quán” cà phê xích lô ở Hà Nội này không thể kể cho xiết được.

Năm còn chiến tranh chống Mỹ, ấy là năm 1972 đang chiến dịch Lam Sơn 719. Ngụy đánh ra Quảng Trị, quân ta dồn vào đấy những binh đội thiện chiến nhất. Dọc đường 9 quân ta đã làm chủ từ cầu Chaky giáp biên giới Lào về đến gần Đông Hà. Quãng Khe Sanh vào tít cho tận miền tây Quảng Trị là đồn điền cà phê của Lệ Xuân. Tôi theo một đại đội trinh sát vào trận. Đóng quân mắc võng xong bỗng tôi ngửi thấy ngào ngạt mùi cà phê cực thơm, tiểu đội phó nói với tôi: “Thủ trưởng sẽ vô cùng ngạc nhiên nhá”. Anh ta làm tôi càng háo hức. Một lúc sau, chúng tôi đến trước một khoảng sân rợp mát bóng cổ thụ, mặt sân lấp bằng vỉ sắt đường băng sân bay và cách tôi vài chục mét bên kia một cổng chào với dòng chữ: “Quán cà phê lính yêu!”, một tấm bảng nhỏ hơn ở bên dưới đề: “Uống theo tiêu chuẩn CSCN” (cộng sản chủ nghĩa), nghĩa là không phải trả tiền. Từ cửa quán bước xuống hai mươi bậc là một căn hầm rất khang trang rộng phải đến năm mươi, sáu mươi mét vuông và ngồi đầy người, toàn lính và sĩ quan; người và người quện trong mùi thơm cà phê. Anh tiểu đội phó kêu: “Xin cho đây năm suất”. Lạ chưa, chỉ dăm phút sau các phục vụ viên, cũng là lính đem ra một khay trên toàn cốc sắt sơn màu lá cây, loại cốc dã chiến của Mỹ, cho năm chúng tôi. Thú thật là chưa khi nào tôi được uống một cốc cà phê ngon đến thế. Vừa cầm cốc cà phê tôi vừa len vào chỗ chủ quán. Đó là một thanh niên cao vẻ thư sinh, đang thao tác trước một đống bột cà phê đựng trong một nắp thùng quân dụng. Tôi hỏi:

- Cà phê ở nông trường của Lệ Xuân hở em.

Anh chủ quán đáp:

- Đích thị!

- Thế em cho người đi hái về?

- Không, đi nhặt về thôi, chỉ phải nhặt thủ trưởng ạ.

- Sao, bom đạn quả cà phê rụng nhiều thế sao.

- Cà phê cứt chồn chớ.

- Giời ơi, cứt chồn à…

- Thế thì quán này của em giá trị ngang với quán cà phê ở Paris nước Pháp.

- Paris gì thì em không biết, nhưng em sơ sơ nhặt được vài tạ rồi về chỉ việc đem ra suối rửa cho sạch phơi khô rồi đem xay.

- Cối đâu, ở đây mà các cậu cũng xoay được cối xay cà phê sao?

- Có chứ, cái cối của bọn em to gần bằng cối xay gạo ấy. Của Mỹ.

- Thế còn điện?

- Bọn em cho nổ máy ô tô mỗi khi xay cà phê.

- Tuyệt vời! Lính của ta cừ thật. Thế cậu lính đất Thánh (Hà Nội) chứ?

- Vâng, đất Thánh thứ thiệt.

- Thế nhà cậu ở phố nào?

- Báo cáo thủ trưởng, phố Huế…

- Giời đất, thế số nhà mấy?

Ông chủ quán vừa nói số nhà, tôi lập tức reo lên:

- Trời ơi! Thế cậu với ông Cậy xưa là thế nào?

- Dạ, đấy là ông nội em!

- Cha ơi! Sao lại kỳ diệu vậy. Nói cho cậu biết nhé, mà cậu tên là gì nhỉ?

- Em tên là Chiêm.

- Này Chiêm, ông nội cậu thường pha cà phê đem qua cho ông ngoại mình. - Tôi nói số nhà ông ngoại tôi - đấy nhé.

- Vậy chúng ta là đồng phố rồi.

- Em cũng biết và quen nhiều người ở ngôi nhà đó của thủ trưởng.

- Quán “Cà phê lính yêu” người ra vào tấp nập. Tôi ở lại đấy nhập vào hàng ngũ phục vụ. Một buổi tối ban chỉ huy sư đoàn X, sư chủ lực kéo vào quán sau một hồi điện thoại với Chiêm. Chiêm bảo tôi, tối nay các thủ trương bàn soạn trận đánh ở đây, tất cả mười lăm người, yên trí dư thừa cà phê chồn. Khoảng 8 giờ tôi đem đèn măng sông thắp lên. Tôi kê các bàn lại thành một bàn rộng. Các sĩ quan đã tề tựu và trên bàn là một tấm bản đồ lớn. Những cốc cà phê nóng nghi ngút hương nồng nàn thơm được đem ra. Thật quả chưa khi nào tôi thấy cái văn hóa cà phê lại có ý nghĩa đến vậy. Một lượt vừa dứt, từng ấy sĩ quan chụm đầu vào nhau bàn soạn một kế hoạch tổng thể giải phóng Quảng Trị, thừa thắng tiến vào Huế. Một giờ đêm công việc đã xong, một lượt cà phê chồn nữa được đem ra. Lúc này sư trưởng – một người đàn ông khoảng ngót năm mươi tuổi cũng quê đất Thánh (Hà Nội) bảo tôi:

- Sau này phục hồi lại nông trường cà phê của con mẹ Lệ Xuân này, ta sẽ có một loại cà phê rất ngon đấy nhé. Tớ nghiện cà phê từ năm học quân sự ở Nga nhưng chưa thấy có nơi nào cà phê ngon như ở đây. Ông trầm ngâm và bây giờ tôi mới chú ý trên tay ông một tách cà phê đúng kiểu, tách sứ, đĩa sứ sang trọng. Chiêm nói vọng với tôi: “Thủ trưởng ơi, suất của thủ trưởng đây, tách sứ nhá”. Tôi reo lên: “Chiêm chơi đúng kiểu người đất Thánh”.

 

In tin Lên đầu tin

Phản hồi bài viết:

Tiêu đề:  
Nội Dung:  
Họ tên:  
Email:  
(*: Cần nhập đủ thông tin)

Danh sách Phản hồi: