Biểu Quyết

Bạn biết website của chúng tôi qua kênh thông tin nào?

  •   Internet
  •   Báo chí
  •   Nghe bạn bè giới thiệu

Biểu quyết

Xem kết quả

Số lượt truy cập: 11402047

Đang online: 7

» Văn & Thơ » Văn Xuôi

KHUẤT QUANG THỤY

-- Ngày cập nhật:11/1/2017

Bút danh: Hưng Long, Vân Huyền; Sinh năm 1950; Quê quán: Phúc Hà, Phúc Thọ, Hà Nội; Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam Tác phẩm chính: Trong cơn gió lốc; Trước ngưỡng cửa bình minh; Người ở bến Phù Vân; Thềm nắng; Không phải trò đùa; Giữa ba ngôi chùa; Góc tăm tối cuối cùng; Người đẹp xứ Đoài; Những trái tim không tàn tật; Nước mắt gỗ...

 

Nhà văn Khuất Quang Thụy

 

CHÙA LÀNG

(Trích tiểu thuyết)

 

Thuở nhỏ, tôi thường nghe mẹ tôi kể nhiều chuyện từng xảy trong làng Điền Hạ, một làng quê nghèo mà cha ông tôi đã sinh sống không biết từ bao đời rồi. Trong những câu chuyện ấy, dẫu là chuyện vui hay chuyện buồn, dẫu kể về những trang hào kiệt hay những anh tá điền nghèo kiết xác thì cũng không bao giờ vắng bóng hình ảnh ngôi chùa làng. Các nhân   vật trong những câu chuyện của mẹ dường như bao giờ cũng gặp nhau ở đó để giải quyết mọi ân oán, cừu thù hay chỉ đơn giản là để tìm lấy những ngày thanh thản cuối đời. Trong tâm tưởng của mẹ tôi, ngôi chùa làng hình như là mảnh đất thiêng cuối cùng, là con thuyền Noe cứu rỗi loài người trong cơn đại hồng thủy. Nhưng thật đáng tiếc, ngay từ khi tôi biết nghe mẹ kể chuyện thì ngôi chùa làng đã không còn nữa mà chỉ còn là một phế tích với một gò đất cao, một cây đa cổ thụ, hai cây đại già gốc xù xì cóc cáy và vài mảng tường bằng đá ong còn sót lại. Vật duy nhất có giá trị của phế tích đó là một phiến đá xanh rất lớn, có lẽ to bằng một cái chiếu, còn nằm dưới gốc đa cổ thụ. Đó là nơi bọn trẻ chăn trâu chúng tôi thường tới ngồi chơi cờ, chơi tú-lơ-khơ… hoặc có khi đốt lên đó một đống lửa để sưởi vào những ngày đông tháng giá. Mỗi lần đi qua, thấy chúng tôi ngồi ngả ngớn hay đốt lửa sưởi trên phiến đá đó, mẹ tôi thường vác đòn gánh đuổi đi rồi mắng cho một trận, gọi chúng tôi là “một lũ bạo hổ bằng hà”. Người nói: “Đó là sập ngự của Đức Ngài. Chúng bay báng bổ thế thì thể nào cũng có ngày ngài vặn cổ đằng trước quay ra đằng sau”. Có lần tôi tò mò hỏi “Đức Ngài là ai hả mẹ?”. Người vội bịt mồm tôi lại, củng cho tôi một cái vào đầu và mắng: “Mày ngỗ ngược quá con ạ. Không được hỏi tới hành tung của Đức Ngài”.

Sau này tôi mới biết Đức Ngài chính là cụ cao tằng tổ họ Hoàng nhà tôi, tướng quân Hoàng Chính Khai, người sáng lập ra ba làng Điền và cũng là người dựng lên ngôi chùa này. Trong cuốn gia phả mà dòng họ Hoàng ở Tam Điền còn lưu giữ được cho đến hôm nay có viết rằng cụ Cao tằng tổ Hoàng Chính Khai vốn là thuộc tướng của đức ông Trần Quang Khải. Vì có công đánh giặc giúp nước nên cụ đã được phong thưởng một dẻo đất ở cùng tả ngạn sông Linh để dựng nên ba trại ấp. Ba trại ấp đó chính là ba làng Điền Hạ, Điền Thượng, Điền Trung họp lại thành xã Tam Điền ngày nay. Tương truyền, dinh thự của Hoàng tướng quân dựng ở Điền Thượng, (nay ở đó còn một ngôi miếu thờ ngài và một đoạn thành bằng đá ong vẫn được gọi là thành cổ nhưng cũng đang đứng trước nguy cơ trở thành phế tích), nghe nói ngày xưa có cả một thành lũy, tựa lưng vào núi Sơn Cương làm thế ỷ dốc, gia binh của tướng quân có tới vài ngàn người, hàng ngày luyện voi luyện ngựa trên núi vì thế nay trên núi Sơn Cương vẫn còn có nơi gọi là Đồi Voi, Trại Ngựa. Nhưng rồi, binh thì luyện mãi mà giặc thì chưa có, Hoàng tướng quân bèn cho đám gia binh lập trận khẩn hoang, đào sông khơi ngòi, dần dà biến cả một dải đồi núi mênh mông thành làng xóm, binh lính thì thành ra dân thường nhưng dấu vết nhà binh thì còn mãi nên trong vùng Sơn Cương – Tam Điền vẫn còn những Xóm Cai, Xóm Quản, Xóm Đội… Khi đã tuổi cao sức yếu Hoàng tướng quân cũng thôi không chiêu nạp gia binh nữa. Không còn lo tới việc giặc giã. Đức Ngài bắt đầu lo tới phần hồn của con dân trong vùng. Đó là giai đoạn mà Đức Ngài cho xây hàng loạt ngôi chùa trong vùng, mà chùa làng Điền Hạ là ngôi chùa to nhất, còn được dân trong vùng gọi là Chùa Cả. Cái phiến đá xanh đó là Đức Ngài cho gia đình chở từ Sơn Cương về đặt dưới gốc đa trước cửa chùa để mỗi khi ngài xuống chùa Cả lễ phật thì lấy làm nơi tọa thiền, tĩnh tâm trước khi bước vào cõi Phật. Từ xưa tới nay, ngày rằm tháng Giêng vẫn là ngày hội lớn nhất trong năm của cả vùng Sơn Cương - Tam Điền. Vì đó là ngày người dân trong vùng rước Đức Ngài về chùa Cả lễ Phật. Đoàn nghi trượng của Ngài khởi từ Sơn Cương, qua Điền Thượng, Điền Trung rồi mới xuống Điền Hạ. Đám rước đi tới đâu là dân trong mỗi xóm, mỗi ngõ đều phải lập bàn thờ trước ngõ để bái vọng rồi sau đó mỗi xóm, mỗi ngõ, mỗi phe mỗi giáp, lại có thêm một chiếc kiệu chở theo lễ vật nối vào đám rước. Cứ như thế, khi tới chùa Cả thì đám rước đã lên đến hàng ngàn, hàng vạn người, cờ xí nghi trượng rợp trời, tiếng chiêng, tiếng trống vang động cả một vùng. Mỗi khi kể về ngày hội rằm tháng Giêng rước Đức Ngài về chùa làng lễ Phật, mẹ tôi thường chép miệng than “Chả bao giờ còn có được những ngày vui vẻ như thế nữa”. Rồi mẹ lại đọc bài ca:

Tháng Giêng đi rước Đức Ngài

Trẻ già nô nức, gái trai rộn ràng

Điền Trung, Điền Thượng rước sang

Sơn Cương rước xuống, Đông Hoàng rước qua

Nam mô Đức Phật di đà

Ngự trong chùa Cả bước ra đón Ngài.

Chùa Cả, tên chữ là Điền Linh tự, được xây cất từ bao giờ thì chẳng rõ, nhưng cái ngày mà người ta đốt chùa để “tiêu thổ kháng chiến” thì nhiều người trong làng Điền Hạ còn nhớ rất rõ. Ngay sau khi chùa bị phá, giặc Pháp có xua quân càn vào vùng Tam Điền – Sơn Cương nhưng chúng lại đóng bốt ở bên Đông Hoàng, nơi có con đường nối ra thị xã. Rồi chúng xây dựng ở đó một trại lính, một sân bay dã chiến. Chỉ thi thoảng chúng mới cho quân  đi tua một vòng qua mấy làng Tam Điền hoặc cho bắn moọc - chê vào vùng Sơn Cương mỗi khi nghe tin có Việt Minh mò về. Chưa bao giờ chúng dám ngủ lại một đêm ở Tam Điền. Ấy vậy mà cũng có lần bọn lính đi tuần đã bị du kích Tam Điền chặn đánh ở cánh rừng nối giữa Điền Hạ và Điền Trung, diệt được hai thằng Tây đen, một thằng tây trắng và năm thằng lính ngụy Bảo chính đoàn. Ngay sau đó, chúng bắn moọc - chê vào làng Điền Hạ, giết chết gần chục mạng người, đốt cháy hơn hai chục ngôi nhà. Một trong những người du kích tham gia trận phục kích ấy và đã hy sinh là ông nội tôi, liệt sỹ Hoàng Chính Đông. Ngày nay, làng tôi vẫn có ngày giỗ chung vào ngày 12 tháng 10 để tưởng nhớ ba liệt sỹ đã hi sinh trong trận phục kích và số dân làng thiệt mạng do trận pháo kích trả thù của địch ngày hôm đó. Mẹ tôi kể rằng: Thi hài ba liệt sỹ trong trận đánh đó cũng được về chùa Cả, đặt nằm trên chiếc sập đá của Đức Ngài để dân làng đến viếng trước khi đưa đi mai táng. Vậy là, trên chiếc sập đá trước cửa chùa Cả làng Điền Hạ có cả dấu máu của ông nội tôi. Có lẽ vì thế mà với dân làng Điền Hạ, ngôi chùa càng trở nên linh thiêng hơn chăng? Đã bao nhiêu năm không có chùa, chỉ còn một gò đất và những mảng tường đá ong nham nhở, chỉ còn lại một phiến đá xanh và một cây đa cổ thụ, nhưng dân làng tôi vẫn trang trọng gọi khu phế tích ấy là Chùa Cả. Ngôi chùa không còn, nhưng khí thiêng thì dường như vẫn còn ngưng tụ quanh quất đâu đây làm điểm tựa tâm linh cho dân làng. Điều đó, liệu có còn được dài lâu?

*

*                      *

Làng Điền Hạ ở ngay bên bờ sông Linh, thuận lợi hơn hai làng còn lại về chuyện đi lại, giao thương nên từ lâu đã trở thành một làng sầm uất, trù phú hơn cả. Tuy vậy, cũng vì ở gần sông hơn nên làng tôi thường phải gánh chịu nhiều tai ương do tính khí thất thường của dòng sông gây nên. Ấy là nói ngày xưa, chứ bây giờ, sông Linh đang chết dần, chảy thoi thóp giữa những đồng bãi, những xóm làng, phố thị, khu công nghiệp, đang mở mang tới tốc độ chóng mặt. Thi thoảng cũng có những mùa lũ lớn, con sông dường như được đánh thức, cố gồng mình lên để lấy lại uy phong của một thời oanh liệt, dâng nước cuồn cuộn tràn lên những xóm làng, đồng bãi, nhưng nó luôn bị những con đê cứng cáp vững chãi như đôi cánh tay thần diệu của chàng Sơn Tinh trong truyền thuyết xa xưa chặn lại. Tuy nhiên, cũng có đôi ba lần, con sông phá được vòng vây, chọc thủng một đoạn đê xung yếu để cho nước sông thỏa thuê gầm réo, ùa vào nhấn chìm những cánh đồng, làng xóm. Có một năm, sông Linh phá được “vòng vây” ở ngay đoạn đê đầu làng Điền Hạ, mẹ tôi thường gọi đó là năm “lở đường”. Năm đó làng tôi thật là thê thảm, nhà trôi, người chết, đồng ruộng bị nhấn chìm, xác gà lợn, trâu bò nổi lềnh bềnh khắp nơi, dân làng chạy nước tứ tán, nhiều nhà vào tận núi Sơn Cương dựng lán ở tạm tránh nước rồi ở luôn đó khai hoang mà sinh sống, không trở về làng nữa. Trong kí ức của mẹ tôi cái năm “lở đường” ấy cũng kinh khủng chẳng kém gì những năm giặc giã. Nhưng ngay cả trong cái mảng kí ức đen tối ấy của mẹ, vẫn có hình bóng ngôi chùa làng, mặc dù lúc này chùa đã không còn nữa. Chùa không còn, nhưng thật không ngờ Phật thì vẫn còn. Nói cho chính xác hơn thì hóa ra những pho tượng Phật của chùa Cả vẫn còn. Thì ra trước khi phóng hỏa đốt chùa, mấy ông du kích làng tôi đã động lòng trắc ẩn, đem giấu đi mấy pho tượng Phật và cả pho tượng Đức Ngài, tướng quân Hoàng Chính Khai. Ai giấu và giấu ở đâu thì không biết nhưng khi xảy ra trận lũ năm đó, già nửa số nhà cửa của làng tôi bị nước lũ cuốn trôi. Trong hàng ngàn thứ đồ vật lềnh bềnh trôi theo dòng lũ bốn pho tượng bằng gỗ mít của chùa Cả. Na-mô-a-di-đà Phật!... Các ngài đã phải chịu chung số phận nổi nênh với dân đen, con đỏ trong cơn đại hồng thủy. Nhưng may mắn thay, các ngài bập bềnh trôi về tới cuối huyện thì mắc lại trong một bờ đăng và được một ông lão tên là lão Nức, kéo vó bè trên sông Linh vớt lên. Ông lão tốt phúc ấy đem các ngài lên phơi trên một cái gò giữa đồng rồi thông báo đi khắp nơi trong vùng xem chùa làng nào mất Phật thì tới mà nhận. Đợi mãi chẳng thấy làng nào tới nhận, ông lão Nức vó bè đành đem các ngài về nhà gá lên gác bếp cùng với đám đăng, đó, lờ dủi… Nửa năm sau, tình cờ có một ông lão bán thuốc dạo, trước đây vẫn thường qua lại vùng Tam Điền ghé qua, câu chuyện đưa đẩy thế nào mà bỗng dưng ông vó bè lại xưng ra cái chuyện vớt được mấy pho tượng Phật trong trận lũ năm ngoái. Ông bán thuốc dạo tò mò xin lão Nức cho được qua xem. Xem xong, ông ta gật gù bảo: “Tôi đã nhận ra rồi, các ngài đây đích thị từng ngự ở chùa Cả làng Điền Hạ. Đây là tượng đức ông Hoàng Chính Khai, không thể nhầm được. Để tôi về thông báo cho họ Hoàng ở Tam Điền xuống rước các ngài về”.

Cái tin tìm thấy tượng Phật và tượng Đức Ngài trong chùa Cả chạy lũ về dưới cuối huyện, khiến cả ba làng sôi lên sùng sục. Nhất là con cháu họ Hoàng ở Tam Điền. Suốt mấy ngày liền người ta túm năm, tụm ba kể về sự sống sót một cách thần kì cả mấy pho tượng chùa Cả qua cả hỏa tai lẫn thủy tai rồi bàn tính xem nên tổ chức rước các ngài về như thế nào? Và rước về rồi thì để các ngài ngự ở đâu vì chùa không còn nữa? Mẹ kể lại rằng, để rước được các ngài về làng cũng trăm chiêu ngàn gửi lắm. Hồi đó, phong trào bài trừ mê tín dị đoan, xây dựng đời sống mới đang lên mạnh lắm. Các cụ trong làng bàn mãi rồi quyết định sẽ tổ chức rước chui. Vì có xin phép, Ủy ban xã cũng sẽ không dám chính thức cho phép tổ chức lễ rước. Các ông cán bộ trong làng, trong xã đều biết cả nhưng thảy đều phải giả bộ như không biết, như chưa từng nghe đến chuyện này. Vì biết mà không có thái độ rõ ràng thì cũng dễ bị qui là hữu khuynh, là bao che cho sự trỗi dậy của những hủ tục, của mê tín dị đoan, của những tư tưởng phong kiến, lạc hậu.

Tuy không xin phép chính quyền nhưng cuộc rước tượng Phật về làng vẫn được tiến hành khá rầm rộ. Đầu tiên các cụ cử một nhóm đi trước tới nhà ông lão kéo vó bè tiến một cái lễ mọn để tạ ơn và xin chuộc lại mấy pho tượng. Việc này chẳng gặp khó khăn gì vì ông lão phúc đức ấy cũng chỉ muốn nhanh chóng giải phóng được cái gác bếp để lấy chỗ treo lờ, treo dủi. Với lại, ông lão bảo rằng chứa chấp các ngài lâu quá cũng cứ thấy nơm nớp. Lỡ mà có ông cán bộ văn hóa nào xấu bụng, tố cho một câu thì lại mang cái tội oa trữ đồ quốc cấm. Sau khi đưa các ngài ra khỏi nơi trú nấp không được sạch sẽ cho lắm, các cụ làng tôi xót xa nhìn thấy pho tượng nhuốm màu bồ hóng đen trùi trũi như những ông vua bếp, rồi tróc lở linh tinh khắp cả, trông không còn ra hồn nữa. Nhìn cũng thấy ái ngại, lão Nức vó bè liền cung tiến luôn một bể nước mưa để các cụ làng tôi tắm táp cho các ngài được phong quang, mát mẻ. Sau đó chú Chín nhà tôi có sáng kiến ra chợ huyện gần đó mua được ít phẩm màu, rồi mấy cụ trong làng xúm lại hí hoáy pha màu, tô vẽ mất một buổi. Cuối cùng thì bốn pho tượng sau khi được Tân  trang lại, trông cũng đã có hồn, không đến nỗi thảm thương cho lắm. Riêng bức tượng Đức Ngài thì rủi thay, trong cuộc thủy tai nổi nênh ấy, ngài bị gãy mất một bên cánh tay. Nhưng các cụ làng tôi bảo vẫn còn làm may vì cái cánh tay bị mất là cánh tay trái, chứ không phạm vào cánh tay cầm gươm của Ngài nên linh khí của Đức Ngài cũng không bị hao tổn. Mãi sau này nhà lão Học cung tiến tiền để xây dựng lại chùa làng, một ông thợ mộc khéo tay dưới Tràng Sơn mới phục chế lại được cánh tay trái cho ngài, cái cánh tay trái Tân  trang ấy cũng được làm rất công phu, từ ngón tay cho tới nếp ống tay áo, sau khi sơn lại tất cả, thì đố ai còn nhận ra dấu vết của cơn tai biến vừa qua nữa. Ấy là nói trước cái chuyện có hậu về sau. Chứ hồi mới đưa các ngài từ nhà lão Nức vó bè về làng thì trông các ngài vẫn thương tâm lắm.

Mẹ tôi kể rằng, ngay chuyện rước các ngài về cũng không phải hoàn toàn thuận buồm xuôi gió. Đoàn rước xách tuy đã cố gắng rút gọn tối đa, nhưng cũng đến vài ba chục con người, Thành thử ra có cố muốn cho gọn ghẽ, khiêm nhường cũng chả được. Đã vậy, dân trong cái làng ấy cũng tò mò chả kém gì dân làng tôi, nên chả mấy chốc người lớn trẻ con kéo đến xem dân làng Điền Hạ rước tượng Phật bị trôi sông cũng tới hàng trăm người. Vừa từ nhà lão Nức vó bè ra đến đầu làng thì đoàn đã bị dân quân cái làng ấy họ giữ lại, khăng khăng yêu cầu phải đưa mấy pho tượng về Ủy ban xã để lập biên bản, cứ như các ngài là sản phẩm của một băng buôn lậu không bằng. Các cụ làng tôi van xin mãi chả được, đám thanh niên đi tháp tùng bắt đầu nổi cáu. Mà người hăng máu nhất lại là chú Chín nhà tôi. Chú giật phắt cây dao phát bờ trên tay một người trong đám dân làng tôi rồi nhảy lên trước đám rước vừa múa vù vù theo thế “mai hoa xuyên tuyết” vừa hét lên: “Ta là tùy tướng của Đức ông Hoàng Chính Khai đây! Kẻ nào dám tùy tiện ngăn đường cản lối đoàn nghi trượng của ngài thì ra sẽ chặt nó ra làm bảy khúc ngay lập tức!” Nhìn thấy khí thế lẫm liệt và những đường đao đằng đằng sát khí của chú tôi, đám dân   quân làng ấy tái mặt, bèn giãn ra, tránh đường. Thế là chú tôi đi trước múa đao mở đường, đám rước cứ lặng lẽ mà tiến theo cho đến khi ra khỏi địa phận của làng họ. Sau này có người hỏi chú tôi rằng chú học bài đao “mai hoa xuyên tuyết” ấy ở đầu mà múa đẹp thế? Chú tôi đỏ mặt cười, đáp: “Từ bé đến giờ tôi có học múa đao, múa gậy bao giờ đâu. Nhưng không hiểu vì sao lúc đó tôi lại hăng máu đến thế? Cứ như có ai đó vừa nhập vào mình vậy?” Các cụ trong làng cũng khẳng định đích thị từng có một vị tuỳ tướng của Tướng quân Hoàng Chính Khai đã nhập vào chú Chín tôi để giải nguy cho đoàn rước tượng. Nghe nói, ngày xưa, cái ông tùy tướng ấy sử dụng một cây thanh long đao nặng ba chục cân, y như cây thanh long đao của Quan Vân Trường vậy?

Rước được tượng về rồi nhưng vì không có chùa nên các cụ trong làng đành phải xin HTX cho mượn một gian kho để chứa tạm. Gian kho ấy từ trước tới nay vẫn dùng để chứa phân  đạm và thuốc trừ sâu nay bỏ không đã lâu ngày nên cũng ẩm mốc, dột nát lắm. Nhưng dù sao so với cái gác bếp nhà lão Nức vó bè thì cũng còn phong quang chán. Vì thế, các ngài có vẻ cũng tạm hài lòng. Mẹ tôi cũng như nhiều người trong làng đều khẳng định rằng, từ khi rước được các ngài về, dân làng tôi làm ăn cũng đỡ chật vật hơn, dịch tật không có, lại được mùa liền mấy năm, con cháu trong làng học hành cũng tấn tới, hiền lành ngốc nghếch như chú Chín tôi mà cũng lấy được vợ. Rồi lại được phong lên chức Xã đội phó. Đặc biệt nhất là ông Hoành, một ông cựu chiến binh là chú họ của tôi thì bỗng được lên chức chủ tịch xã Tam Điền, đó là lần đầu tiên cái ghế chủ tịch xã thuộc về làng Điền Hạ kể từ khi lập nước Việt Nam dân chủ cộng hòa tới nay. Trước đó cái ghế Chủ tịch xã luôn thuộc về người làng Điền Thượng và Điền Trung. Người làng tôi xưa nay chưa bao giờ ganh tỵ về điều đó vì họ đều biết rằng Điền Thượng là nơi xưa kia Đức Ngài lập dinh, Điền Trung thì là nơi sinh hạ ra bà Đồng Thị Phấn, một trong những người thiếp yêu của Đức Ngài nên ngài có phù hộ độ trì cho hai làng ấy nhiều hơn cũng là lẽ thường tình. Khóa nào khá lắm thì làng Điền Hạ cũng chỉ được một ghế phó Chủ tịch là cùng. Nay dường như Đức Ngài đã thay đổi cách nhìn đối với dân Điền Hạ rồi chăng? Đáp lại Ân đức của ngài, ông Hoành chủ tịch mới cho sửa lại gian kho, lợp lại mái, quét vôi ve, xây bục bệ hẳn hoi để “nâng cấp” từ một nơi chứa đồ thành nơi thờ tự. Từ đó vào ngày tuần ngày tiết, các cụ làng tôi lại có nơi hương khói. Riêng mẹ tôi thì phấn khởi lắm, mồng một ngày rằm nào bà cũng sắm sanh để “ra chùa” làm lễ. Các bà trong làng cũng dần dần theo nếp của mẹ tôi. Đúng là Phật ở đâu thì chùa ở đó, cái gian chứa phân đạm, thuốc sâu ấy dần dần đã biến thành chùa làng Điền Hạ từ lúc nào chẳng rõ?

*

*                      *

Với đám trẻ con chúng tôi thì cái gian nhà kho ẩm mốc ấy quyết không thể là chùa làng được. Chỉ có một nơi chúng tôi vẫn gọi là chùa, đó là gò chùa, nơi có nền móng phế tích của ngôi chùa cổ, nơi có phiến đá xanh mà Đức Ngài Hoàng Chính Khai từng ngự mỗi khi về lễ chùa và nơi từng thấm máu những người du kích liệt sỹ của làng Điền Hạ. Nơi ấy là sân khấu chính của toàn bộ tuổi thơ tôi và bạn bè cùng trang lứa trong làng. Đó là sân  chơi, là nơi tụ tập, là đấu trường, là nơi trốn những trận đòn roi của các bậc cha mẹ. Và khi đến tuổi trưởng thành, đó cũng là nơi hò hẹn của nhiều lứa đôi trong làng vào mỗi đêm trăng sáng.

Có một dạo gò chùa bỗng dưng thành cấm địa. Ấy là vào những năm sáu mươi năm, sáu mươi bảy, khi cuộc chiến tranh phá hoại của giặc Mỹ mở rộng ra toàn Miền Bắc. Có một đơn vị cao xạ pháo 100 ly về xây dựng trận địa trên cánh đồng giữa Điền Trung và Điền Hạ. Gò chùa được đơn vị cao xạ pháo chọn làm nơi xây dựng một kho chứa đạn và một trạm cấp cứu thương binh. Chỉ trong vòng vài ngày đêm trên nền khu phế tích của chùa Cả mọc lên một dãy nhà, kèo sắt, tường trát tooc xi trộn rơm, mái lợp giấy dầu đen sì. Chỉ có một ngôi nhà nhỏ hơn, nằm dưới gốc cây đa cổ thụ cạnh phiến đá xanh là được xây bằng gạch ba banh, lợp ngói, quét vôi sáng sủa vì đó là nhà của ban chỉ huy kho. Suốt mấy đêm liền, xe quân sự rì rầm chạy vào làng tôi, thanh niên nam nữ trong làng cũng được huy động ra giúp bộ đội vác đạn vào nhà kho. Lúc đó tôi đã mười sáu tuổi, vừa hết tuổi sinh hoạt đội thiếu niên, chưa được vào đoàn thanh niên nhưng cũng được huy động đi “phục vụ chiến đấu” là oai lắm, không phải đứa nào cùng lứa tuổi với tôi cũng được tham gia. Tôi tham gia vác đạn hai đêm ròng toét hết cả vai, nhưng cũng tự hào lắm. Từ ngày Gò Chùa được chọn để xây dựng khu kho quân sự thì người trong làng không ai được bén mảng tới, trừ những thanh niên thi thoảng được huy động đi “phục vụ chiến đấu” như bọn tôi. Dân làng tôi cũng có ý thức cảnh giác rất cao, không bao giờ bép xép tiết lộ với người làng khác về khu kho quân sự ở làng mình. Đã có một ông thợ đóng cối bị trói gô lại, giải lên tận huyện giao cho Công an vì đã tò mò hỏi han hơi nhiều về cái khu nhà lợp giấy dầu ở đầu làng Điền Hạ. Đám thanh niên mới lớn chúng tôi được kết nạp vào dân quân, hàng đêm tham gia tuần phòng vòng ngoài để bảo vệ cái khối bí mật ghê gớm đang nằm lù lù trên Gò Chùa. Hồi đó, mỗi khi ra đầu làng nhìn thấy những khẩu cao xạ khổng lồ vươn cao nòng trong nắng sớm, rồi lại nhìn vào dãy nhà kho im lìm chứa đầy những viên đạn to đùng, sáng loáng, tôi cứ nghĩ rằng, đến cái làng hẻo lánh như làng tôi mà còn có cả một kho đạn, một trận địa pháo hiện đại thế kia thì thằng Mỹ làm quái gì được mình? Trận địa pháo về làng đã nửa năm mà chẳng thấy chiếc máy bay Mỹ nào dám lảng vảng tới. Hay là chúng nó có gián điệp, báo về tận Mỹ rằng ở làng Điền Hạ có một trận địa pháo cao xạ rất ghê gớm, chớ có dại dột mà lảng vảng tới nên bọn phi công Mỹ đã kiềng mặt làng tôi?

Nhưng đến mùa hè năm sau thì những khẩu pháo cao xạ 100 ly ở trận địa làng tôi đã có dịp nổ súng. Không ngờ trận đánh được chờ đợi lâu như thế lại chỉ diễn ra trong vài phút. Mà lại diễn ra vào ban đêm. Đang nằm ngủ say sưa, bỗng cả làng choàng tỉnh dậy bởi những tiếng pháo nổ rền ngoài đầu làng. Tiếng kẻng báo động của dân quân cũng vang lên dồn dập, thôi thúc. Cả làng náo động. Tôi vội vác chiếc gậy bảy và một cuộn dây thừng, chạy ngay ra nơi tập trung, bụng nghĩ thầm phen này nhất định phải bắt cho được một thằng phi công. Tôi vừa chạy ra đến đầu làng thì nghe thấy tiếng máy bay Mỹ gầm rú kinh hồn rồi bay sạt qua ngay trên đầu mình. Ngay sau đó là tiếng bom nổ. Những quầng lửa đỏ lựng trùm lên khu vực trận địa pháo. Chú Chín tôi, lúc đó vẫn là xã hội phó hét lên:

- Chúng ném bom trúng trận địa rồi! Anh em dân quân… Theo tôi ra chi viện cho bộ đội!

Then chân chú Chín, chúng tôi vào ra trận địa. Nhưng khi chúng tôi ra đến nơi thì trận đánh cũng đã kết thúc. Bốn năm cái hố bom sâu hoắm nằm sát trận địa, đất đá bị xới tung lên lấp hết cả lối đi. Trên trận địa bộ đội ta vẫn đang vững vàng ngồi trên mâm pháo. Tiếng hô khẩu lệnh từ đài chỉ huy vang lên “Máy bay địch đã bay ra khỏi vùng kiểm soát của đơn vị ta. Các khẩu đội khẩn trương cứu chữa thương binh, củng cố lại trận địa, kiểm tra đạn pháo và khí tài. Sẵn sàng cho trận đánh tiếp theo”

Khi chúng tôi chạy tới trận địa thì mới biết không có quả bom nào rơi trúng các hầm pháo, tuy vậy vì máy bay địch rải cả bom bi nên đã có hai chiến sỹ hi sinh, ba người khác bị thương. Tôi được chú Chín phân công đưa những người lính bị thương và hi sinh về trạm cấp cứu ở Gò Chùa. Tới lúc này, bọn thanh niên trẻ chúng tôi mới biết, thì ra, một trong hai pháo thủ vừa hi sinh lại là người yêu của chị Lụa, chị họ của tôi. Anh tên là Hạnh, người dưới mạn Thái Bình. Thảo nào, mấy hôm trước, tôi nghe thấy mấy chị trong đội nữ dân quân của làng trêu chọc rằng chị Lụa sắp về dưới Thái Bình làm “công nhân nhà máy cháo”… Hồi ấy, dù sao tôi cũng chỉ là đứa trẻ mới lớn, nên còn tin rằng có lẽ có một nhà máy như thế ở tỉnh Thái Bình và chị họ tôi sắp thoát li để trở thành công nhân thật. Bây giờ thấy chị gục bên thi thể anh Hạnh, đặt trên phiến đá xanh của Đức ông Hoàng Chính Khai mà khóc như mưa như gió tôi mới hiểu đầu đuôi câu chuyện. Thì ra, anh chị đã kịp báo cáo tổ chức rồi, chỉ còn đợi ngày lành tháng tốt là nhà trai sẽ đưa cơi trầu tới xin cưới chị Lụa về làm vợ anh Hạnh.

Lễ truy điệu hai liệt sĩ được cử hành ngay tại Gò Chùa, linh cữu của hai anh được đặt trên chiếc sập đá của Đức Ngài, cả làng tôi đều tới dự. Chị Lụa mặc đồ tang, lả đi trước linh cữu của người chồng sắp cưới. Trông thấy cảnh ấy đám thanh niên nam nữ làng tôi đều không cầm được nước mắt và tôi cứ nghĩ rằng có lẽ chị Lụa rồi cũng đến chết theo người yêu mất thôi. Nhưng chị đã không chết mà sau cái đận tang tóc ấy, chị tình nguyện xung phong đi bộ đội để trả thù cho anh. Chị vào Trường Sơn, rồi mấy năm sau chị trở về với một cái chân cụt. Nhưng bù lại, quân đội đã đào tạo chị trở thành một y sĩ. Chị trở về, trạm xá xã Tam Điền có thêm một y sỹ tài ba. Có điều chúng tôi cứ nghĩ rằng có lẽ chị khó mà lấy được chồng. Ai ngờ, sau năm bảy mươi lăm, có một anh bộ đội ngày trước cùng đơn vị với anh Hạnh trở về tìm chị. Rồi họ thành vợ chồng. Anh Đừng, chồng chị Lụa là người tận trong Vinh, nghe nói gia đình anh cũng không còn ai nữa nên khi được phục viên, anh đã về sống cùng chị Lụa và trở thành người ở rể của làng Điền Hạ.

Trở lại trận đánh máy bay Mỹ trên cánh đồng Tam Điền hồi đó. Mấy hôm sau, dân làng tôi được thông báo rằng đêm ấy, trận địa pháo ở Điền Hạ đã bắn cháy một máy bay F111… Nhưng chiếc máy bay bị thương ấy còn lết được sang tận rừng Lào mới chịu rơi. Đơn vị pháo cao xạ có mời đại biểu chính quyền và nhân dân xã Tam Điền tới dự lễ mừng công. Đơn vị cao xạ thì được trên tặng thưởng Huân chương, còn “Quân dân xã Tam Điền” thì được tặng một cái Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ, vì đã có thành tích “Phối hợp và giúp đỡ Bộ đội phòng không hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chiến đấu”, hiện cái Bằng khen ấy vẫn còn được treo ở Hội trường Ủy ban nhân dân xã. Sau lễ mừng công vài ngày, vào một đêm, đơn vị pháo cao xạ bỗng kéo pháo đi đâu mất. Sáng ra, dân làng ngơ ngác nhìn ra cánh đồng thấy trống huơ trống huếch, không còn nghe tiếng kẻng báo thức, báo ngủ, không còn nghe tiếng hô khẩu lệnh, tiếng bộ đội cười nói trên trận địa nữa, dân làng tôi cũng cảm thấy chống chếnh mất một dạo. Bù lại, trước khi chuyển hết đạn dược, dỡ hết dãy nhà kho đi, ban chỉ huy đơn vị quyết định để lại cho làng tôi cái nhà xây bằng gạch ba banh lợp ngói, để làm kỉ niệm. Các cụ làng tôi cảm động lắm, bèn họp nhau lại làm một lá đơn lên Ủy ban xã, xin xã giao cho các cụ cái nhà ấy để biến nó thành nơi thờ cúng Đức ông Hoàng Chính Khai “và những Anh hùng liệt sỹ có công với nước”. Tài tình nhất là ở cái câu sau cùng này, như thế Ủy ban mới có thể danh chính ngôn thuận giao cái nhà ấy cho các cụ làng Điện Hạ mà không sợ mang tiếng là tiếp tay cho việc khôi phục lại chùa chiền, miếu mạo, một việc mà ở vào cái thời ấy còn rất khó chấp nhận.

Đảng ủy và Ủy ban xã họp hai ba phiên rồi cũng đồng ý với ý nguyện của nhân dân làng Điền Hạ. Thế là làng tôi lại có chùa. Sau khi tu sửa qua loa, các cụ trong làng chọn ngày lành tháng tốt rước ba bức tượng Phật và bức tượng Đức ông Hoàng Chính Khai lên nhà mới. Sau khi đã an vị cho các bậc thánh thần, các cụ cũng bàn nhau quyên góp được một ít tiền rồi đi thửa một tấm bia đá có khắc tên ba liệt sỹ làng Điền Hạ thời chống Pháp trong đó có ông nội tôi và hai liệt sỹ Bộ đội phòng không thời chống Mỹ rồi đem về đặt ở một góc trong “chùa mới”, lập một bát hương để nhân dân trong làng có nơi hương khói. Việc làm ấy tưởng chẳng có gì phải cấn cá. Ai dè chỉ mấy tháng sau thì bùng lên thành một vụ kiện cáo rất rắc rối rồi trở thành nguyên nhân gây chia rẽ trong làng trong xóm, khắc vào tâm thức dân làng Điền Hạ một nét buồn trong đời sống tâm linh.

*

*                      *

Ngay sau khi bộ đội cao xạ rút đi thì tôi cũng vào bộ đội nên mãi tới khi chúng tôi đi đánh Mỹ trở về mới được mẹ tôi kể cho nghe chuyện này. Mẹ bảo, ai ngờ một việc tốt đẹp như thế bỗng dưng trở thành cái ung cái nhọt âm ỉ bấy nhiêu năm trời, khiến cho nhiều người trong làng trở mặt thành thù, không còn nhìn đến nhau nữa. Nguyên nhân thì cũng rất đơn giản. Sau khi năm liệt sỹ kia được khắc vào bia đá, đưa vào chùa thờ một thời gian thì nhiều gia đình liệt sỹ khác bỗng dưng thấy mình bị thiệt thòi. Thôi thì hai anh bộ đội phòng không, người ta ở tận đẩu tận đâu về đây đánh giặc rồi hi sinh ở làng mình, thì không nói tới làm gì? Nhưng còn ba ông kia, thì cũng là liệt sỹ như người nhà chúng tôi cả. Sao các ông ấy được đưa vào chùa thờ, mà người nhà tôi thì lại không? Như thế thì còn chi là công bằng nữa? Các cụ trong làng, những người có sáng kiến lập ra tấm bia ấy thì lập luận rằng, sở dĩ ba ông kia được thờ ở đó vì khi các ông ấy hi sinh đã được mang về đó để khâm liệm và làm lễ truy điệu, hương hồn của họ vẫn còn lảng vảng ở nơi này, nên mới nghĩ ra cái việc đưa họ vào thờ trong “chùa mới”… Vả lại, lúc đó làng cũng lấy cái lí này để làm đơn xin xã ngôi nhà ấy, nên mới làm như vậy. Chứ, làng này, nếu tính cho hết cả liệt sỹ thời chống Pháp lẫn chống Mỹ cũng đến con số hàng trăm, thì đưa cả vào chùa sao được? Cái số đông đảo ấy, dù sao cũng đã có nơi để tôn vinh, đó là nghĩa trang liệt sỹ của xã rồi, còn thắc mắc làm gì? Nghe giải thích như vậy, các gia đình liệt sỹ khác trong làng vẫn không xuôi, họ nói như vậy là vẫn thiên vị, vẫn lấy người này hơn người khác, thờ trong chùa là một vinh dự đặc biệt, lại ấm cúng gần gũi hơn, khác hẳn với việc thờ ngoài nghĩa trang liệt sỹ chỉ có ngày lễ ngày tết, xuân thu nhị kì mới được nén hương chứ?

Chính quyền xã lúng túng không biết giải quyết thế nào, dân lại kêu lên tới tận Huyện. Huyện bảo “Thôi, nếu thế thì nhấc cái bia ấy đi, làm thế, dù có hơi sái nhưng cũng chỉ mất lòng ba gia đình trong làng, còn hơn là phải đối mặt với hàng trăm gia đình chính sách khác”. Huyện chỉ thị như vậy. Xã về triển khai thì gặp ngay sự phản ứng dữ dội của ba gia đình có người được thờ trong chùa, trong đó có gia đình tôi. Người hăng nhất hóa ra lại là chú Chín, là cán bộ Đảng viên hẳn hoi, mà khi nghe truyền đạt chỉ thị của trên chú đứng phắt ngay dậy, vằn mắt hét tướng lên: “Đứa nào muốn động đến cái bia ấy thì phải bước qua xác tôi đã”. Rồi chú hầm hầm bỏ ra khỏi phòng họp. Những tưởng chú chỉ phản ứng tức thời vậy thôi, ai ngờ tối hôm đó, chú cắp chiếu, vác theo một cây dao phát bờ, một chiếc đèn chai rồi nói với vợ: “Từ nay, tối tối tôi ngủ ngoài chùa”. Vợ chú sợ quá, vừa khóc vừa mếu chạy sang gặp mẹ tôi “Bác ơi, bác tính thế nào chứ? Nhà em định đi tu đấy. Anh ấy bảo từ nay anh sẽ ra ngủ ngoài chùa”. Mẹ tôi bảo “Cái thằng… điên hay sao thế không biết?”. Rồi bà vội xách đèn chạy ra chùa hỏi cho ra nhẽ thì mới biết xã có chủ trương dỡ tấm bia trong chùa đi, chú đã thề không để cho thằng nào đụng tới tấm bia ấy. Có chết, chú sẽ chết ở đây. Tưởng rằng mẹ tôi sẽ dùng lời hơn lẽ thiệt để khuyên chú, ai dè bà lại bảo: “Phải đấy. Tôi sẽ tiếp tế cho chú. Khi nào chú bận việc thì bảo tôi, tôi sẽ ra thay cho chú. Nhất định không được để cho người nào đụng tới tấm bia đó”.

Những ngày sau, hai gia đình khác có liệt sỹ được thờ trong chùa cũng cử người ra hợp sức với chú Chín tôi. Hai nhà ấy đều là những gia đình có vai vế trong làng, con cháu họ lại đông, nên chẳng lúc nào trong chùa không có người “chốt giữ”… Ủy ban nhân dân xã thấy căng quá, định lờ đi cho xong chuyện. Nhưng những gia đình liệt sỹ thuộc “phe nghĩa trang” vẫn tiếp tục khiếu kiện. Có lần họ kéo hàng chục người tới gặp Chủ tịch huyện. Ông chủ tịch khôn ngoan mời họ vào nhà khách, cho đánh chén một bữa, cho mỗi người mấy gói kẹo về làm quà cho các cháu, rồi hứa “Việc này, từ từ rồi Huyện sẽ có cách giải quyết”. Là ông cũng hứa đại như vậy thôi, chứ biết giải quyết bằng cách nào bây giờ? Cũng may là dân làng tôi dẫu có giận nhau đến mấy thì giận, nhưng không ai dám động chạm đến nơi thờ cúng Đức ông Hoàng Chính Khai, nên cũng không có chuyện xô xát xảy ra trong chùa. Nhưng ở ngoài chùa thì đã bắt đầu có sự rạn nứt, chia rẽ… Thậm chí đã có đám thanh niên đi tập quân  sự hẳn hoi mà cãi nhau một lúc rồi lao vào ẩu đả xô xát ngay trên bãi tập vì chuyện tấm bia. Ông chủ tịch, kiêm Bí thư Đảng ủy xã nghe tin tức lộn ruột, liền hộc tốc đạp xe ra, tập hợp đám thanh niên lại rồi hét lên “Chúng mày có muốn đánh Mỹ nữa không hả? Thằng giặc dữ nó đang lăm le cướp cả cái nước này kia kìa. Chúng bay cứ ngồi ở xó làng mà cãi nhau. Nay mai nó mà tới được đây, thì nó hốt cả mả ông cụ ông kị nhà chúng bay mà đổ ra sông ra biển… Nói gì tới bảng vàng bia đá, hả?”. Rồi ông bắt tất cả cán bộ, đảng viên phải kiểm điểm tuốt. Riêng chú Chín nhà tôi thì lãnh đủ. Chú bị đưa ra chi bộ để họ cạo cho một trận tóe khói, bị cách chức Xã đội phó, và còn đứng trước nguy cơ bị khai trừ ra khỏi Đảng nữa. Chức tước chú không màng, nhưng chú dám lên tận Văn phòng Đảng ủy nói toáng lên rằng “Tôi bị kỉ luật cũng được… Chả làm xã đội phó thì tôi làm dân, làm chiến sỹ dân quân, có giặc đến cũng chả ai cấm tôi đánh giặc được. Nhưng còn danh hiệu Đảng viên thì tôi phải giữ. Nếu các ông khai trừ tôi ra khỏi Đảng, tôi sẽ chết cho các ông xem”… Không biết có phải vì sợ chú tôi tiêu cực quá hóa liều hay không, nhưng người ta cũng không nỡ khai trừ chú ra khỏi Đảng, mà chỉ ra một cái án kỉ luật cảnh cáo trước toàn Đảng bộ mà thôi.

Thấy chú tôi bị cách chức, bị kỉ luật Đảng, dường như những gia đình thuộc “phe nghĩa trang” cũng hả hê đôi chút. Vì thế, tình hình kiện cáo cũng dịu đi. Có người trước kia rất hăng hái, từng thề rằng bằng bất kì giá nào cũng phải hoặc là đưa được bố mình vào chùa, hoặc phải kéo bỏ tấm bia kia đi thì nay bỗng xuống giọng, tặc lưỡi nói rằng: “Suy cho cùng thì đó cũng chỉ là cái nhà của bộ đội cho thôi. Đâu phải là chùa chiền gì? Vì thế có được thờ ở trong đó cũng chẳng phải là chuyện gì ghê gớm cho lắm!”

Hình như đây mới là sự thật. Chú tôi, mẹ tôi và những người thân của ba liệt sỹ đã hi sinh trong trận giặc càn vào Tam Điền năm ấy đã quên mất rằng, cha ông họ hi sinh đâu phải vì để có một chỗ thờ cúng ở bên cạnh những ông thần ông thánh? Vả lại, cái ngôi nhà ba gian, xây gạch ba banh ấy đâu phải là chùa làng. Nghe mẹ tôi kể rằng, sau khi chú Chín tôi bị kỉ luật, ông Bí thư Đảng ủy đã đến tận nhà tôi, rồi gọi cả chú Chín tôi sang mà nói rằng: “Bác Ngạn (tức là mẹ tôi) với chú Chín này… Tôi nói đây có gì không phải thì bác với chú bỏ qua cho. Chứ cái chuyện này khiến tôi đau lòng lắm. Bố tôi cũng vì dân vì nước mà bị thằng Tây nó đày ra Côn Đảo rồi chết ở đó. Vậy mà cho đến nay tôi đâu có biết được rằng liệu bố tôi có được chết toàn thây hay không, có được chôn cất cho tử tế hay bị chúng nó quăng xác xuống biển làm mồi cho cá rồi? Đến cái danh hiệu gia đình liệt sỹ nhà tôi cũng chưa được hưởng vì người ta bảo rằng bố tôi bị bọn tù thường phạm đánh chết chứ không phải bị địch khảo tra mà chết? Cái chuyện bố tôi bị địch bắt đày ra Côn Đảo có phải vì đi làm cách mạng hay không cũng chưa xác minh được. Vậy mà gia đình tôi vẫn còn phải cắn răng, chờ ngày đất nước thống nhất để xem có thêm manh mối gì không. Cụ nhà ta được chết vì dân vì nước giữa thanh thiên bạch nhật, được dân làng mai táng, thờ phụng, được hưởng tiếng thơm muôn đời, như thế chẳng đã vinh dự lắm rồi hay sao? Còn thờ ở đâu thì có quan trọng gì? Được nhân dân thờ trong lòng, trong tim này này, thì mới là vĩnh cửu. Vậy nên tôi khuyên bác chớ nên làm to chuyện này ra làm gì? Con chú Chín, là cán bộ, đảng viên mà chú thiển cận như thế, nên chú phải chịu kỉ luật cũng chẳng oan ức gì đâu. Hôm nay tôi sang đây chỉ để nói với bác, với chú Chín bấy nhiêu lời thôi”.

Nghe ông bí thư nói thế, mẹ tôi như bừng ngộ. Bà khuyên chú Chín thôi không ra ngủ chùa giữ bia nữa, việc để tấm bia trong đó hay mang đi thì cứ mặc cho chính quyền xã giải quyết. Hai gia đình kia cũng nghe theo lời mẹ tôi. Chuyện tấm bia thế là xong. Nhưng kì lạ là khi cả ba gia đình không còn nhất quyết đòi để nguyên tấm bia trong chùa mới nữa thì những gia đình liệt sỹ khác trong làng lại không có ý kiến gì nữa, thậm chí nhiều người còn kiến nghị với xã là thôi, cứ để đó, coi như năm ông liệt sỹ ấy làm đại diện cho tất cả những anh em liệt sỹ trong làng ngày đêm chầu hầu Đức ông Hoàng Chính Khai cũng được. Vậy nên, tấm bia ghi danh năm liệt sỹ hi sinh tại làng Điền Hạ vẫn điềm nhiên tại vị trong ngôi “chùa mới” của làng Điền Hạ.

Ngày tôi đi đánh Mỹ trở về đến đầu làng thì gặp mẹ. Người vừa khóc vừa kéo tôi vào chùa để làm lễ tạ ơn các ngài đã che chở cho tôi thoát khỏi hòn tên mũi đạn. Theo mẹ ra “chùa mới”, nhìn lên mái nhà xô lệch giột nát, lại nhìn xuống những bức tượng phật tróc lở, tượng Đức Ngài cụt tay, bị nước mưa dội xuống nên toàn thân các ngài đều nhoe nhoét phẩm màu mà lòng tôi lại thấy cám cảnh, bùi ngùi. Chiến tranh loạn lạc, giặc giã triền miên năm này qua năm khác khiến dân đen con đỏ cơm chẳng đủ no, áo chẳng đủ mặc, bao người còn chưa có chỗ mà nương thân, nói gì đến chùa chiền đền miếu? Thánh thần ở cái đất nước vừa kinh qua mấy chục năm chiến tranh kể cũng vất vả lam lũ thật!

Trong khi mẹ tôi cúi đầu làm lễ trước mấy pho tượng tróc lở, tôi lén móc trong túi cóc ba lô ra một bánh lương khô 702, thứ thức ăn cao cấp của những thằng lính nơi mặt trận, đặt lên trước tấm bia ghi tên năm vị liệt sỹ. Các vị có khôn thiêng thì phù hộ cho dân cường nước thịnh, để quê hương ta nhanh chóng thoát khỏi cảnh đói nghèo. Khi ấy, chắc dân làng Điền Hạ chúng tôi cũng sẽ không quên các ngài đâu. Nước nổi thì bèo cũng nổi mà!

*

*                      *

Không ngờ, lời khấn nguyện của tôi ngày đó cũng có ngày trở thành sự thật. Sự nghiệp đổi mới đã thành công ở những đâu trên đất nước này thì tôi không dám nói tới, nhưng ở Tam Điền quê tôi thì thấy rõ. Gần chục năm liền người dân Tam Điền không phải chống chọi với những trận đói giáp hạt. “Dân dĩ thực vi tiên” , thoát được cái đói đã là ước mơ bao đời nay của người dân quê tôi rồi. Bây giờ về quê, tôi chỉ thấy người ta nói tới chuyện làm giàu. Và quả là đã có nhiều người trong làng giàu lên trông thấy. Mà giàu nhất là nhà ông Học, con một lão phó rèn tới ngụ cư ở làng tôi từ khi tôi chưa sinh ra. Ngày còn bé tí, lũ trẻ chúng tôi vẫn thường rủ nhau sang lò rèn nhà ông phó Động, xem anh Học đánh búa, xem lão Động làm phép phù thủy biến những cái liềm cùn, những con dao mẻ, những cuốc xẻng cày bừa, gãy nát trở thành những thứ đồ mới tinh, sắc lẻm. Khi lớn lên, chúng tôi được vào dân quân, nhưng anh Học hơn chúng tôi gần chục tuổi thì không được tham gia vì “lí lịch không rõ ràng”… anh cũng xung phong đi bộ đội nhiều lần mà chả được. Sau này chúng tôi mới biết, sở dĩ anh Học bị phân  biệt đối xử như vậy là vì cha anh, lão Động từng đi lính cho Tây. Từng sang tận bên Pháp học làm lính thợ. Khi trở về không hiểu vì sao mà lại bị tai nạn lao động, hình như lão bị bỏng nặng khi làm việc trong một lò luyện kim khí hay gang thép gì đó. Được giải ngũ, lão Động không về quê mà đi lang thang khắp nơi làm thuê làm mướn cho những ông chủ lò rèn. Rồi không hiểu vì lẽ gì, ông làm quen được bà Hồng, con ông giáo Thông người làng tôi nhưng có một sạp hàng xén trên chợ Điền Trung. Rồi họ thành vợ thành chồng. Ông giáo Thông cho anh Động về Điền Hạ ở rể. Ông Động trở thành người làng tôi từ đó.

Khi chiến tranh kết thúc, chúng tôi đi đánh giặc trở về làng thì ông Động đã mất, anh Học đã thay ông đứng chủ lò rèn và đã có thằng con trai. Thời bao cấp, cả làng Điền Hạ còn nghèo đói nhưng anh Học đã mua được một chiếc xe máy Sim Sơn đỏ chót. Có lần chú Chín tôi nhìn theo chiếc xe máy xịt khói xanh lè của anh Học rồi nói với tôi “Cháu đi xa không biết chứ, các ông cán bộ xã này là mất cảnh giác lắm. Để cho nó tự do mua gom sắt thép, phế liệu về chất đầy nhà. Cả cái xác máy bay rơi trên núi Sơn Cương nó cũng mua về chất ở xó vườn ấy. Không biết nó định làm cái gì? Thằng này không khéo thành tư bản lúc nào không biết?”

Kể ra thì chú Chín tôi đã đoán đúng. Mấy năm sau, ông Học giàu lên ùn ùn, ông chưa phải là nhà tư bản, nhưng theo cách nói của thời mở cửa, ông đã trở thành một nhà doanh nghiệp có máu mặt trong vùng. Ông mở tới ba bốn cái xưởng vừa tái chế sắt thép, vừa sản xuất các mặt hàng kim khí. Có tới một phần ba thanh niên làng tôi trở thành “công nhân” của ông. Nhiều người trong làng tôn kính gọi ông là “Ông chủ Học”, còn mỗi khi có hội hè gì thì các vị chức sắc trong xã đứng trước micrô đều phải trịnh trọng giới thiệu “nhà doanh nghiệp Trương Đình Học” ngay sau danh sách các quan khách trên Huyện, trên tỉnh về dự. Như vậy cũng là phải lẽ, vì quả thực ông Học đã có nhiều đóng góp với quê hương Tam Điền chúng tôi. Nhưng ở đây, tôi không định kể về con đường làm giàu của ông Học, mặc dù xung quanh chuyện lập nghiệp của ông, có rất nhiều điều li kì. Điều mà tôi muốn kể ra ở đây là chuyện ông Học bỏ tiền của ra để dựng lại Chùa Cả làng Điền Hạ.

Ước mơ dựng lại chùa làng vẫn âm ỉ trong lòng mỗi người dân quê tôi nhưng ít ai dám nói tới. Vì ai cũng biết muốn dựng lại chùa phải có hai điều kiện tiên quyết. Thứ nhất là phải được chính quyền cho phép. Thứ hai là phải có tiền, rất nhiều tiền. Cả hai thứ đó đều là những việc khó như tìm đường lên giời vậy. Nhưng rồi, cơ duyên cũng đến. Điều khó thứ nhất đã có thời cơ tháo gỡ. Ấy là khi Sở văn hóa Thông tin của tỉnh, sau nhiều năm điều tra khảo sát, đã xác định và công nhận cụm Di tích văn hóa - lịch sử Tam Điền, gắn liền với tên tuổi Tướng quân Hoàng Chính Khai đã được lưu trong sử sách. Trong cái cụm di tích ấy, có đền thờ tướng quân  Hoàng Chính Khai và dấu vết còn lại của những thành tích ở Điền Thượng. Ngoài ra còn có cả dấu tích của Chùa Cả do tướng quân Hoàng Chính Khai xây dựng ở Điền Hạ. Sau khi nhận bằng công nhận di tích. Ủy ban nhân dân xã Tam Điền được cấp một khoản tiền hơn trăm triệu đồng để trùng tu lại cụm di tích lịch sử - văn hóa. Số tiền ít ỏi ấy chỉ tạm đủ để tu sửa lại đền thờ của Đức Ngài và làm một đoạn đường vào khu thành cổ, chứ chưa thể nói gì tới chuyện dựng lại chùa Cả.

Hồi đó, mẹ tôi chưa qui tiên. Một hôm, ông Học tìm đến nhà gặp mẹ và chú Chín rồi hỏi hai người: “Cụ với bác thử nghĩ xem, liệu làng ta có thể đứng ra xin với xã cho dựng lại Chùa Cả không?”. Mẹ tôi quay về hướng đầu làng vái một vái “Nam mô a di đà Phật… Chuyện này là không nói chơi được đâu, ông ạ. Tiền ở đâu ra mà dựng lại chùa, dân làng mình vẫn còn nghèo lắm”. Ông Học liền cười bảo “Tiền thì cháu có thể lo được. Nhưng điều đầu tiên là phải được Xã, Huyện cho phép đã”. Chú Chín tôi xưa nay vẫn không ưa gì ông Học, tinh thần cảnh giác cách mạng của chú vẫn cao lắm, nhưng nghe nói đến việc dựng lại chùa, thì tự nhiên chú hăng hái hẳn lên. “Sao lại không được - Chú nói - Nếu ông có lòng hảo tâm, thì cứ làm đơn, kèm theo một bản dự án đàng hoàng, chúng tôi sẽ ủng hộ”. Chú Chín tôi nói mạnh miệng thế, vì hiện nay chú vừa là Chủ tịch Mặt trận của xã, lại vừa có chân trong ban quản lí bảo vệ cụm di tích Tam Điền. Nghe chú Chín nói vậy, ông Học cả mừng nói: “Vậy thì để em thu xếp”.

Và ông Học thu xếp mọi việc cũng nhanh. Chỉ hai tháng sau, bản dự án xây dựng lại Chùa Cả, một hạng mục trong cụm di tích văn hóa - lịch sử Tam Điền đã được cả ba cấp xã, huyện, tỉnh thông qua. Nội dung cơ bản của bản dự án ấy là như thế này: Ông Trương Đình Học sẽ bỏ tiền ra tổ chức xây dựng lại ngôi chùa ở làng Điền Hạ theo thiết kế được Sở văn hóa thông tin của tỉnh phê duyệt. Bên cạnh ngôi chùa sẽ xây dựng thêm một nhà bia để ghi danh tất cả hơn một trăm liệt sỹ làng Điền Hạ đã hi sinh trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ. Bù lại, ông Học được xã cho phép san lấp ba mẫu ao đầm nằm ngay sát chùa Cả để xây dựng nhà xưởng và “những công trình phục vụ đời sống văn hóa tinh thần của nhân dân trong xã”… Dự toán kinh phí xây dựng ngôi chùa và nhà bia hết khoảng năm trăm triệu đồng, giá trị khu ao đầm mà ông Học được sử dụng ước tính khoảng ba trăm triệu đồng. Như vậy là ông Học chỉ thực sự cung tiến cho việc xây dựng lại Chùa Cả có hai trăm triệu đồng mà thôi. Nhưng số tiền đó cũng là quá lớn đối với mỗi gia đình nông dân ở làng tôi đều bảo “Định giá thế cho oai, chứ mấy mẫu ao đầm sình lầy ấy, xã có bán với giá một trăm triệu chưa chắc gì dân làng này đã có ai thèm mua”. Vì vậy, cả làng đều ủng hộ việc làm của ông và mỗi gia đình đều tình nguyện sẽ tham gia lao động công ích cho công trình vào bất kì lúc nào nếu ông Học yêu cầu. Các cụ trong làng thì tiến hành một cuộc quyên góp để có được một ít tiền tô lại tượng. “Người ngụ cư, chả lẽ việc đền chùa của làng lại để cho ông ấy gánh hết thì cũng khó ăn nói lắm”.

Nghe các cụ nói vậy, chú Chín tôi nhăn mặt nói “Có gì ghê gớm lắm đâu. Mỡ nó rán nó thôi. Rồi các ông xem lão Học cũng chả thiệt thòi gì, mà lại được lưu tiếng thơm muôn đời. Buôn bán như thế mới tài chứ?”.

Chú Chín tôi cứ lỗ mã lỗ mỗ như thế những rồi hóa ra chú nói đúng hết. Chùa Cả dựng lại xong, khang trang, đẹp đẽ. Mấy pho tượng được sơn lại trông rất sáng sủa, trang nghiêm. Bức tượng Đức ông Hoàng Chính Khai cũng đã được lắp cánh tay mới đặt trên bệ cao ở gian bên tả. Ngài đứng uy nghiêm tay cầm đốc gươm, nhìn ra khu nhà bia có tấm bia ghi tên hơn một trăm liệt sĩ của làng Điền Hạ và hai liệt sỹ pháo phòng không… Để quyết định “chuyển mục đích sử dụng” phiến đá xanh lớn này các cụ trong làng đã phải tiến hành làm lễ xin Đức Ngài phê duyệt. May mắn sao Đức Ngài cũng là người hào phóng, nên các cụ xin âm dương một lần là được ngay. Ngày khánh thành Chùa Cả, khách thập phương kéo về nườm nượp, danh tiếng của nhà doanh nghiệp Trương Đình Học nổi như cồn. Chỉ có một điều nuối tiếc là mẹ tôi đã không sống được tới cái ngày vui lớn này. Bà đã ra đi vào đúng ngày ngoài chùa người ta làm lễ cất nóc. Trước khi trút hơi thở cuối cùng, mẹ tôi còn kêu con cháu lại dặn rằng, khi nào xong chùa, con cháu phải nhớ làm lễ qui hóa để đưa bà lên chùa cho thật chu đáo.

Chùa dựng xong thì ba mẫu ao đầm ở đầu làng, liền kề với ngôi chùa cũng được lão Học san lấp xong và bắt đầu xây dựng thành tòa ngang, dãy dọc. Cũng với thời điểm ấy, một con đường liên Huyện được mở cắt ngay qua đầu làng tôi, chạy qua Đông Hoàng rồi nối thẳng lên thị xã. Ba mẫu đất của lão Học trở thành đất mặt đường cái quan, giá bỗng tăng lên vùn vụt. Những người thạo tính toán nhất của làng Điền Hạ nhẩm tính sơ sơ rằng ba mẫu đất ấy giờ đây bỏ rẻ cũng có giá trị một tỷ bạc. Nhưng được cái may, Điền Hạ là đất thuần nông, dân Điền Hạ không có máu con buôn trong người nên họ cũng chẳng băn khoăn nhiều lắm về cái sự được thua, lỗ lãi ấy. Họ đều là những người hồn nhiên lạc quan, nên thường thì chỉ nhớ tới cái được mà không thích nói tới cái mất.

Làng tôi đã có ngôi chùa và cái nhà bia, thế là đủ lắm rồi!

In tin Lên đầu tin

Phản hồi bài viết:

Tiêu đề:  
Nội Dung:  
Họ tên:  
Email:  
(*: Cần nhập đủ thông tin)

Danh sách Phản hồi: