Biểu Quyết

Bạn biết website của chúng tôi qua kênh thông tin nào?

  •   Internet
  •   Báo chí
  •   Nghe bạn bè giới thiệu

Biểu quyết

Xem kết quả

Số lượt truy cập: 11402057

Đang online: 17

» Văn & Thơ » Văn Xuôi

NGHIÊM ĐA VĂN (1944 - 1997)

-- Ngày cập nhật:4/4/2017

Quê quán: Phú Xuyên, Hà Nôi. Tốt nghiệp Đại học Sư phạm Hà Nội. Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam Tác phẩm chính: Ngã ba đất đỏ (tập truyện ngắn); Tầm cao năm tháng (tiểu thuyết); Độ nóng mặt trời (tập truyện); Bạn tôi (tập truyện); Gió mặn (tiểu thuyết)...

 

Nghiêm Đa Văn (1944-1997) là nhà văn cùng lớp với Nguyễn khoa Điềm, Phạm Tiến Duật… Trong khi bè bạn mỗi người đã tự định hình văn học cho riêng mình, như làm thơ hoặc phê bình, nghiên cứu… thì Nghiêm Đa Văn xông xáo vào đủ thể loại: truyện ngắn, truyện dài, tiểu thuyết, thơ, kịch bản điện ảnh. Tuy không chuyên hẳn một thể loại nào,  nhưng trong từng lĩnh vực, ôngđều để lại dấu ấn.

 

NGÃ BA ĐẤT ĐỎ

 

Nắng chiều đổ bóng đỉnh Truông Kén che đầy nửa lòng thung. Thế mà những tảng bụi đất đỏ mờ mịt vẫn chưa chịu tan trên bầu trời ngã ba. Ấy là gọi theo thói quen, chứ bây giờ đâu còn ngã ba nữa. Cả một vùng đồi hoa và xóm núi ôm ngã ba đường đã bị hàng vạn hố bom sâu hoắm đỏ khé như máu tươi, há hoác ra nuốt chửng. Hố nọ ngoạm miệng hố kia, nuốt hết làng xóm, nhà cửa và hai xứ đồng Xôi, đồng Kén bao la. Và nuốt chửng cả dòng sông Khe Lang ngày xưa vẫn thì thào dàn nguồn nước trong trẻo tưới cho những doi đồng xa ngái!

Bây giờ cả một vùng đất bán sơn địa đã bị bom đạn nghiến cho đến nát vụn thành một khối bụi đỏ ngầu. Mỗi lần bọn Mỹ giội xuống, đất ngã ba lại dựng lên một bức thành mây đỏ khé cao ngất trời.

Thoạt nhìn thấy bóng Sim băng qua eo Truông Kén, khắp người như đắp bằng đất nung đỏ, mẹ Phận rụng rời chân tay:

- Đường nớ, ngày nào chẳng dăm bảy tráo rải thảm tọa độ, bom bi mẹ, bi con, bi ổi, nổ ngay, nổ chậm, ngộ nhỡ sẩy chân tay, có phải khốn không?

- Rứa mẹ bảo con đi lối mô? Ngày nào mẹ chẳng đi qua đây như cơm bữa, sao mà thấy con đi có mỗi một lần mẹ đã hốt hoảng, mặt như đổ chàm?

Nó dám hỏi vặn mẹ. Thế có bực không chứ! Mẹ gắt toáng lên:

- Tao khác, tao quen rồi!

- Rứa mẹ quen thì bom tọa độ, từ trường nó sợ mẹ chắc?

- Nhưng tao đi là có công, có việc...

- Thì mẹ tính, con về làng, về nhà là không có công việc à?

Nó nói trống không thế mà làm mẹ đứt ruột đứt gan. Mẹ đập tay phân bua:

- Khốn nỗi, còn chi nhà cửa mà về. Thằng Mỹ nó hủy diệt năm lượt rồi, giữ chỉ có mấy cái hầm bám sâu trong đất thôi. Thôi, con cứ đi đi, chỉ cần đánh về cho tao cái thư, tao mừng, là được.

Sim im lặng, phủi bụi rồi lặng lẽ ngồi chải đầu ngoài ngách hầm. Cái lược thép làm bằng xác máy bay sáng óng ánh như bị chìm và tắt lịm đi trong mớ tóc dài và đen thăm thẳm.

Sim tủm tỉm cười trong bóng sẫm của đáy hầm. Cái xoáy đồng tiền lúc ẩn lúc hiện trên đôi má. Giọng Sim trong trẻo như từ xa xôi vọng lại, y như tiếng chảy thầm thì của dòng sông Khe Lang đã chết bỗng hồi sinh trong nỗi nhớ:

- Mẹ à, mấy bom, mấy đạn thì đất vẫn còn, mà còn đất thì còn làng xóm, quê hương, chôn rau cắt rốn. Còn dân làng ta bám đất. Mẹ giận thì giận con xin chịu, chứ đằng nào con cũng phải về làng, thăm mẹ. Ngày mai con đã đi xa rồi...

Thế rồi ngoắt một cái. Sim đã luồn qua ngách hầm biến đi đâu mất. Chắc hẳn nó lại lên túm tụm với mấy o trực súng trên đỉnh Truông. Biết làm sao buộc nổi chân nó! Mẹ mừng vì Sim là đứa con gái biết ăn biết nghĩ. Nói chi thì nói chứ không có làng có nước thì sống răng được. Mỹ hủy diệt mấy lần cái làng nhỏ ôm lấy ngã ba Đồng Lộc. Nhưng một ngã ba đường lại trườn lên trên miệng hố bom, mở lối cho xe ra hỏa tuyến. Người vẫn bám lấy đất thì làng cũng bám sâu vào lòng đất. Nếu như Sim không về thăm làng trước ngày đi đến một đất nước xa xôi, yên tĩnh và chắc rằng sẽ vui sướng, thì chắc rồi Sim sẽ ân hận suốt đời. Mà mẹ Phận thì biết nói gì với bà con làng xóm. Xấu mặt lắm. Nhưng Sim về giữa lúc bom đạn cứ rải thảm suốt ngày đêm thế này, làm sao mẹ không lo được. Cái mừng với cái lo cứ đan nhau như một tấm lưới vây lấy ý nghĩ của mẹ làm mẹ thốt vui, thốt giận, thất thường...

Riêng mẹ thì mong Sim về lắm. Mẹ muốn được nhìn Sim cho đến no con mắt. Và còn nhiều điều mẹ muốn nói cho cạn nhẽ nông sâu với Sim, nhưng tính mẹ đố có để một cái gì lâu trong bụng. Mẹ mắng té tát vài câu để Sim biết giữ gìn, bớt cái máu liều lĩnh đi thôi. Có thể mẹ mới yên dạ.

Cả buổi chiều mẹ dành cho việc sửa soạn một bữa ăn, gọi là tiễn con. Nhưng cả làng chỉ còn sót lại vài ổ gà nuôi trong ngách hầm sâu. Mà toàn là dạng ấp dở cả. Mẹ chẳng làm sao giật tạm được một con. Bà mẹ Xu thấy vậy, lẳng lặng bắt gà giúi vào tay mẹ. Mẹ mừng quá, toan chạy quáng chạy quàng về nhà. Nhưng con gà mái xù lông giãy trên tay mẹ và kêu cục cục... Mẹ giật mình nhìn thấy ổ trứng đang ấp dở nằm chơ vơ trên một nắm rơm nát. Ổ trứng ấp dở tự nhiên mất mẹ, sao mà trông tội nghiệp thế! Mẹ không thể cầm lòng được. Sao giữa những ngày bom đạn khốc liệt này mẹ lại thèm được nghe tiếng gọi con cung cúc của ả gà mái dẫn đàn con tha thẩn kiếm ăn từ ngách hầm này qua ngách hầm khác. Càng bom đạn, mẹ lại càng thèm được nghe tiếng gà con gọi mẹ gọi con điềm tĩnh, thiết tha...

- Thôi bà ạ, để nó ấp nốt kẻo tội nghiệp... Bao giờ nở, bà cố để cho tôi một đôi nhé!

Mẹ Xu không nài. Mẹ cũng tiếc con gà, tiếc cả ổ gà sắp nở. Nhưng mẹ Xu lại giúi vào tay mẹ Phận hai quả trứng gà còn nóng ấm như có nhịp thở phập phồng bên trong.

- Con bà cũng như con tôi. Ta thì phiên phiến thế nào cũng xong, nhưng mình là phận mẹ. Con nó sắp đi xa, dù sao thì cũng phải có một tý cái ăn cho nó đỡ tủi. Bà cứ cầm về...

Con gà mái mẹ rũ lông phành phạch. Mỏ hé mở, tiếng rên "cưng cức..." khe khẽ, nhưng kéo dài từ cuống họng, nửa như gọi con, nửa như nức nở. Một loạt bom rít cánh trên đầu. Đất trên mái hầm lở xuống rào rào. Căn hầm xô đi như đưa võng. Mẹ Phận nâng niu hai quả trứng mỏng manh bé xíu trên đôi tay nhăn nheo, nép mình vào đáy hầm. Con gà mái vẫn còn nằm ôm lấy ổ. Đôi cánh lốm đốm xòe rộng, lông dựng lên dữ dội. Hình như nó muốn chọi nhau với những khối thép mang cái chết để bảo vệ cho những sinh mạng nhỏ nhoi đang hình thành và khẽ thở phập phồng trong lần vỏ mỏng manh. Mẹ Phận chẳng nói chẳng rằng đến sát bên ổ gà ấp. Con gà mái bỗng kêu lên chao chát: bộ lông lại xù ra và toàn thân như ép sát xuống lớp rơm nát. Mẹ ém hai quả trứng xuống đôi cánh gà nóng ấm. Ả gà mái như hiểu lòng mẹ Phận, nó giụi cả cái đầu nhỏ bé vào lòng tay mẹ và kêu lên khe khẽ. Tiếng gà nựng con làm xao xuyến cả lòng đất.

Bây giờ thì đã xế chiều. Nồi cơm vẫn chín nục. Lại chỉ vẫn là cơm độn sắn thôi. Mỗi bát cơm phải cõng một củ sắn như bầy kiến tha con cào cào. Thức ăn vẫn chỉ độc có một đĩa nhút mít chua.

Từ đổ bóng chiều chập tới, mấy đợt F.4 kéo đến vãi bom tọa độ, bom ngay, bom chậm, bom sát thương, bom phá, bom bi theo lối trộn xôi đỗ. Bức thành bụi đỏ lại dựng lên cao ngất. Ánh nắng chiều xiên của mặt trời buổi chiều không thể lách qua lớp bụi dày đặc ấy. Thấy bom rải nhiều như đổ vỏ ốc, lòng mẹ Phận bồn chồn. Không biết Sim chạy đâu mà quên cả bữa, làm mẹ chờ đến nóng ruột nóng gan:

- Ơi, bà Phận, ăn cỗ quàng lên. Tẹo nữa sang nhà bà Kén hội ý nhá!

Nhưng trời đã sập tối lúc nào không biết. Việc làng việc nước trăm mối cứ giằng kéo mẹ Phận, làm mẹ bồn chồn. Mẹ đành lựa cơm để phần Sim. Còn phần mình thì mẹ đùm vài ba củ sắn vào vạt áo, vừa lách hầm vừa nhai trệu trạo cho qua bữa. Mẹ tính tạm gác câu chuyện ấy đến đêm, hai mẹ con sẽ nằm đắp chung chiếc chăn cũ và nói chuyện rõ khuya...

Khi chòm sao Thần Nông đội nón, rẽ lớp mây bụi đất đỏ nhìn xuống vùng đất ngã ba đang chuyển nhanh vào phần đêm sôi nổi thông đường, có một o thanh niên xung phong nào đó cất giọng hò lanh lảnh. Tiếng hò nhiều luyến láy vương vấn trong rặng mây bụi đỏ, cao vút và ngân ra như rơi bồng bềnh trên miệng những hố bom và trên đỉnh những ngọn đồi trơ trụi:

Hò ơi... Có lên truông mới biết truông cao

Có đến ngã ba đất đỏ mới biết công lao o ba sẵn sàng...

Tiếng hò ngân cao hơn tiếng bộc phá phá bom, tiếng xích xe, tiếng búa, tiếng choòng. Cao hơn cả tiếng rồ máy bồn chồn của những đoàn xe ở đầu tuyến đường Nam, Bắc và hướng mặt trời lặn.

Mẹ Phận cười thầm trong bóng đêm. Không biết con cái nhà ai mà ngọt giọng thế. Chắc là nó cũng sàn sàn một tuổi với con Sim. Cứ nghĩ đến cái tuổi chúng nó mà thèm...

*

*                      *

Suốt ba năm cấp ba, trọ học xa, Sim chẳng làm sao nguôi được nỗi nhớ nhà. Càng lớn cái nhớ nhà càng sâu hơn, da diết hơn. Nhất là từ độ ném bom hạn chế. Bọn Mỹ đã dồn biết bao bom đạn đánh hủy diệt hòng cắt đứt con đường phía Nam. Hủy diệt cái làng chân núi nằm ôm ngã ba đường. Năm lần hủy diệt, năm lần rời làng, năm lần những hố bom há toác nuốt đi tất cả. Bây giờ làng Đồng Lộc chỉ còn lại những chiếc hầm Cồn Cỏ nằm sâu trong lòng đất và những hầm địa đạo như mạch máu ôm lấy ngã ba.

Chưa bao giờ Sim yêu quê mình bằng một tình yêu dữ dội và trầm tĩnh như yêu cái làng chìm sâu dưới đáy những hố bom hôm nay. Trong lòng Sim, hình bóng người mẹ và làng quê gan góc bám đất ngã ba, đạp dưới chân năm vạn quả bom tấn như nhập lại làm một. Ngày mai Sim sẽ rời làng đi học tại một học viện lớn ở nước bạn xa xôi. Con đường khoa học sẽ mở cho Sim những chân trời mới mẻ. Nhưng phải xa mảnh đất quê hương trong những ngày bom đạn khốc liệt này, Sim cảm thấy lưu luyến lại vừa thấy như mình có lỗi. Không biết sao, khi gặp lại những đứa bạn cùng lứa tuổi, sống chết bám lấy đất ngã ba, Sim hơi ngượng ngùng, xấu hổ. Sim tủi thân vì mình như kém hẳn các bạn bè. Nhưng những người bạn cùng lứa tuổi hấp dẫn Sim đến với họ như một cơn gió lốc mê say. Chưa kịp nói hết câu chuyện dở dang với mẹ, Sim đã tìm lối luồn ngách hầm đi tắt lên trận địa trực súng của các o dân quân. Nhìn thấy Sim, lũ bạn đã vồ lấy:

- Gớm, con ranh, mi ở lỗ nẻ mô mà chui lên đó? Bọn tao cứ tưởng mi bỏ làng, bỏ chúng bỏ bạn đi đến tận đâu đâu rồi.

Sim đứng trong công sự giữa đám bạn bè chăn trâu cắt cỏ từ thuở nhỏ. Từ o tiểu đội trưởng Thanh má lúm đồng tiền cho đến o đội viên Út cũng sàn sàn một tuổi với Sim, thế mà Sim vẫn cảm thấy mình bé nhỏ hơn. Các o trực súng, o nào o nấy đã bắt nắng đen giòn. Thanh cười khanh khách, tiếng cười giòn tan giữ nguyên vẹn niềm vui ngày nhỏ qua biết bao thử lửa và khổ đau. Không hiểu sao nghe thấy tiếng cười quen thuộc ấy. Sim lại thấy là lạ và trong trẻo quá.

- Chỉ cho Sim đánh một buổi chiều nay cho biết mùi thôi. Chứ việc mi là phải học cho giỏi. Đừng để cho các bạn nước ngoài phải xấu hổ cho con gái xã Đồng Lộc nhà ta.

Ngày còn bé, Sim và Thanh hay rủ nhau đi buộc trâu, rồi leo lên đỉnh truông này để hái sim. Những chùm quả chín mọng, ngọt lịm, ăn tím môi, tím miệng, tím cả hàm răng sữa như lỡ nghịch ngậm đầu ngòi bút. Hai đứa rất thích đứng trên mỏm đồi cao này nhìn ngắm cảnh làng xóm ven ngã ba không chán mắt. Ở đây nhìn rõ gốc mít sai quả, từng vại nước mưa đầy tràn và trong vắt, đặt cạnh gốc cau gầy gò thẳng đuột. Từng hũ mắm, hũ nhút, cho đến con chó con gà cũng hiện lên sinh động quanh những mái nhà lá như lợp nắng và mái ngói đỏ như bìa quyển vở mới. Một điều thú vị là tất cả đều thu nhỏ lại, xinh xắn và ngộ nghĩnh y như những đồ chơi vậy. Con gà mái chỉ bằng hạt thóc nếp mẩy phơi được nắng, còn đàn con nhỏ ríu rít theo nhau như những chấm hạt kê vừa vãi xung quanh. Chiếc xe đạp dựa vào gốc cây ngô đồng, bên quán nước nhà thím Ngãi, trông như chiếc kính lão của thầy giáo trường làng đặt bên lọ mực đỏ. Con trâu nằm lười biếng dưới bóng mát của cội lim già, nhai lại cỏ, trông chẳng khác gì một củ khoai lang luộc... Cái Thanh thường hay chỉ trỏ và vừa đoán vừa tìm những cách ví von ngộ nghĩnh để cười tít mắt. Cái lúm đồng tiền cứ sâu hoáy như xoáy trên đôi má bánh đúc bầu bĩnh.

Bây giờ tất cả hình bóng của tuổi thơ ấy đã bị mất đi trong hàng vạn cái miệng hố bom đỏ làm ngoác rộng. Sim cố căng mắt tìm, cố gạn một chút màu xanh, dù là màu xanh úa vàng của một bụi cỏ dại. Cho đến hút tầm mắt, chỉ còn dội lại một màu đỏ khé lở loét của những hố bom nham nhở. Cái màu của một miếng thịt bị lột da và gặm nát bằng hàm răng quỷ sứ, tướp máu, làm cho mắt Sim cảm thấy nhức nhối.

Những con đường dã chiến đêm qua gan góc trườn qua vùng đất chết lại bị bọn "con ma" vãi đến hàng vạn tấn bom xóa đi, chỉ còn ghi lại một đôi nét mong manh.

Từ đổ bóng chiều đến chập choạng tối, Sim được đánh liền bốn trận hiệp đồng với các trận địa cao xạ pháo. Và giữa những giây phút yên tĩnh hiếm hoi của hai trận đánh, bọn Sim đã nói với nhau được bao nhiêu chuyện tâm tình. Tất nhiên câu chuyện của các cô gái mới bước vào tuổi thanh niên, thường gợi lại hình bóng của những người bạn thân thiết của mình. Giọng họ trở nên đằm thắm ngọt ngào, họ cười bằng những nụ cười ám vàng khói thuốc đạn trên đôi môi đắng ngắt... Sim cũng đã giải giúp cho các bạn một bài tập lượng giác hóc búa.

Thanh chỉ sang đỉnh truông trước mặt:

- Sim đã biết o La Thị Tám đếm bom chưa? Đó, o be bé đứng trên đỉnh đài quan sát Thái Văn A đó. Nó còn kém tuổi con bé Út tiểu đội nhà mình ở đây. Thế mà nó đã cắm tiêu năm trăm quả bom để đánh dấu cho công binh phá mở đường. Năm trăm lần cắm tiêu, năm trăm lần đối mặt với cái chết. Thế mà nó vẫn không bỏ một buổi học nào. Mới non một trăm ngày quần nhau với bọn Mỹ trên ngã ba Đồng Lộc nhà mình, mà nó nuốt ngon ơ hai lớp mới ghê chứ...

Và khi nghe giọng hò trong vắt của o thanh niên xung phong nào đó ngân vang trên những tiếng vang dội rạo rực, gan góc của một đêm mở đường, thông tuyến, thì Sim chợt nhớ ra bữa cơm. Chắc mẹ phải đến mòn con mắt. Sim vội vã chạy tắt theo lối mòn xuống lòng thung tím sẫm bóng đêm như lặn xuống dưới đáy sâu của tiếng hát ngọt ngào một điệu dân ca miền Trung tha thiết.

*

*                      *

- Bữa gặt bồi ở xứ đồng chân cầu Tùng Cóc, tôi đã nói đến đứt lưỡi là liệu mà thu xếp gặt hối lên, nào có ai chịu nghe cho đâu. Mình dấn tay gặt sớm lên một ngày có phải là đã tận thu được mấy chục tấn thóc không. Đâu đến nỗi để đến hôm nay nó quẳng mấy dây bom nổ chậm như đổ vỏ ốc vào mươi mẫu lúa chín rũ, chín rụng. Bom nó thì nằm phơi bụng ăn vạ giữa ruộng, bông lúa thì gục mặt khắp đồng, còn mình thì nhìn lúa rũ rượi. Mỗi trộ gió lào lay gốc lúa, thóc lại rụng rào rào, nghe mà đứt từng khúc ruột.

Sim nhận ngay ra tiếng mẹ mình. Chẳng trách người ta đồn: ông gì thì ông cũng phải kiềng miệng lưỡi bà Phận. Tính khí nóng nảy như lửa, mà lời ăn tiếng nói cứ như roi cá đuối. Chỉ được cái tốt bụng tốt dạ, thực thà kéo lại.

Vừa lách vào hầm, Sim vội đảo mắt tìm mẹ. Mẹ Phận ngồi khuất sau ngọn đèn dầu lù mù vặn nhỏ tí như hạt đỗ xanh, những tia sáng mong manh làm cho đôi gò má của mẹ thêm nhô cao và hai hốc mắt đói ngủ càng đào thêm sâu thăm thẳm. Đôi mắt mẹ bao giờ cũng chan chứa tình yêu thương nhưng cũng chính là đôi mắt khao khát dù một chút niềm an ủi. Mẹ đặt bàn tay khô rám trên trang sổ công tác nhầu nát mở rộng dưới quầng sáng xanh của ngọn đèn. Cái bàn tay khỏe mạnh, tháo vát nhưng không thể nào giấu nổi một đôi cử chỉ vụng về của một người chưa từng có niềm hạnh phúc làm mẹ. Bàn tay ấy chưa bao giờ được bồng bế nâng niu đứa con do mình dứt ruột sinh nở.

Chốc chốc mẹ lại nhìn đăm đăm về phía chị Kén, phó chủ tịch xã. Chị ngồi đung đưa trên chiếc võng bộ đội, cháy xém. Chiếc võng mắc vào hai xà hầm. Trên tay chị ôm chặt đứa con sinh nở thiếu tháng như cố níu lại chút hơi thở yếu ớt của nó.

Chị Kén lặng yên trong một bài hát ru con, khó mà phân biệt được lời. Cái bài hát dặm cổ truyền có nhiều chỗ khuất khúc. Mắt chị nhìn xoáy vào một điểm nào đó trong không gian như muốn đuổi bắt một thoáng ý nghĩ vừa vụt tan đi. Cái thoáng ý nghĩ mà trí não quá mệt mỏi nhức nhối của chị không sao giữ nổi, cứ để buột ra. Đứa con ngột hơi đất, hơi người lại khóc lặng, không thành tiếng. Chị lại ghì chặt con hơn.

Cái ngày hôm ấy cứ chập chờn trong trí nhớ. Lúc như vừa mới hôm qua, lúc xa thẳm như đã trải qua bao nhiêu năm tháng, bao nhiêu cuộc đời, vọng lại. Cái ngày ấy, cái góc hầm ấy, cứ lửng lơ trong nỗi nhớ mung lung của chị. Như có mà cũng như không. Ừ buổi tối hôm đó, cũng vào lúc gà vừa lên chuồng như lúc này. Cả nhà quây quần quanh mâm cơm. Đứa con gái đầu lòng, tóc vừa dài để cặp thành một cái đuôi tôm cũn cỡn xòe sau ót, nó luôn mồm tíu tít khoe chuyện cô giáo Huân đã mở trường cấp hai đầu tiên ở xã nhà, ngay trong lòng đất ngã ba, giữa vùng túi bom ác liệt nhất. Chị thấy chuyển bụng, cái thai đạp dữ dội. Có lẽ vì trong hầm ngột ngạt quá, chị ngồi xê ra phía ngách hầm cho thoáng.

Cơm chẳng có gì ăn cả. Chỉ có một đĩa nhút mít chua khé nằm chơ vơ trên cái mảnh gỗ chi chít mảnh bom bi. Hai thằng còn nhỏ chí chóe cãi nhau như hai con chim chích chòe.

Chồng chị nheo mắt nhìn hai đứa con, cười lặng lẽ. Đuôi con mắt vê tít lại như cũng cười, nụ cười bằng đôi con mắt có duyên thầm. Thời con gái chị yêu anh mê mệt như ăn phải bùa mê cũng chỉ vì cái nụ cười lặng lẽ và đôn hậu trên đuôi con mắt này. Nghe hai đứa con chí chóe cãi nhau, chị thấy buồn cười. Nhưng nụ cười chị chưa kịp tan trên khóe miệng mà lòng chị đã se lại xót xa. Đúng lúc ấy anh nói giọng anh trầm trầm nửa đùa nửa thật:

- Ít bữa nữa bố ra Hà Nội, xin ông Lương Đình Của giống lúa tám xoan về, rồi lấp hố bom mà cấy. Đến ngày mùa, bố thổi cơm cho các con ăn. Nồi cơm chín mẹ vần góc bếp, cười lật vung, mùi cơm tám xoan thơm suốt từ đầu làng cho chí cuối xóm. Ai cũng vã nước miếng mà thèm. Lúc ấy bố sẽ giết một con gà, hái nắm lá chanh, đánh một mẻ lưới, bắt cho đủ một nồi cá bống kho...

Hai thằng bé há mồm nghe như con chim háu mồi, bốn cánh mũi phập phồng như đã ngửi thấy nồi cơm gạo tám xoan thổi nồi đồng điếu trong hơi đất hầm ngột ngạt. Con bé nhớn khôn hơn, nó ý tứ xòe bàn tay nhỏ xíu tím bầm sim chín, che cái miệng sứt răng, cười rúc rích.

Anh đang nói dở một câu bông đùa, và đôi mắt nheo cười lặng lẽ điểm vào làm duyên giữa chừng câu nói, thì đất hầm sụt hẳn xuống và lửa tóe trước mặt. Chị như bị dìm sâu vào trong lòng đất. Cả thân hình như bị xé nát ra từng mảnh. Cái thai trong bụng đạp quằn quại. Chị chỉ còn biết xòe hai bàn tay ôm lấy bụng.

Đang chìm mỗi lúc một sâu trong lòng đất thăm thẳm, chị bỗng nghe chập chờn như có tiếng trẻ con khóc ngằn ngặt, lúc gần lúc xa. Chị cố níu lấy tiếng trẻ sơ sinh ấy như níu lấy một chút hy vọng, như người chết đuối níu lấy một cánh bèo.

Khi hồi tỉnh lại, chị mới biết một quả bom độc ác đã đánh đáo vào hầm nhà chị giữa chừng bữa cơm.

Tất cả không còn nữa. Chỉ mỗi một mình chị ngồi khuất ra cửa hầm nên sống sót. Chị bị động thai, nửa thân mình đẫm trong máu. Và đứa con ra đời non tháng trong tình trạng hôn mê, ở nơi ranh giới mong manh giữa sự sống và cái chết của người mẹ. Sim nhìn như bị hút vào đôi môi tái nhợt đang run rẩy thì thầm hát bài hát ru dân ca cổ. Hình như chị Kén chẳng để tâm gì đến bài hát, chị hát theo một thứ bản năng như thở khí trời vậy. Chị còn bận đánh vật với trí nhớ để bắt cái ý nghĩ luôn tuột khỏi những lo lắng đắn đo trong đầu.

Số phận của mười mẫu lúa chân ruộng ven cầu Tùng Cốc cuốn Sim vào một cuộc bàn bạc to tiếng gần như cãi nhau. Mẹ Phận một hai giữ ý kiến là phải gặt giành gặt giật ngay trước họng bom. Anh Kiều mới giữ chân xã đội thay Kén, bàn là nên phá bom rồi hẵng gặt cho chắc chắn. Mẹ Phận giẫy nẩy người lên như phải bỏng.

- Đánh bom thì bom nổ, lúc nào chịu nổi sức phá của mười sáu quả bom tấn. Cứ gọi là rụng hết mất thóc. Giờ lúa đã chín rũ rồi. Để thêm ngày nào là rụng thêm, mất bát cơm ngày ấy. Rứa đó, tôi đã nói đứt lưỡi rồi. Cứ bàn ngang, bàn dọc để mà bàn thì chỉ còn một nước ăn rơm thôi.

Bác Nhã, bí thư Đảng ủy xã, vẫn giữ mọi người bằng cái nết chắc chắn điềm tĩnh của mình. Bác nõi rẽ rọt từng tiếng một:

- Đằng rằng hạt thóc là rất quý, ai ba tháng đổ mồ hôi mà chẳng tiếc khi trông thấy lúa chín rụng trước họng bom. Cứ bàn cho cạn nhẽ, thế nào trong cái khó cũng phải ló ra cái khôn.

Một vài người cho mẹ Phận là liều lĩnh, đánh cược máu người để đổi lấy hạt thóc trên mảnh ruộng chân cầu Tùng Cốc. Thôi thì đành cầm bằng chịu mất trắng như phủi bàn tay vậy. Làng mình năm lần bị hủy diệt mà mình còn không tiếc, nữa là một nắm thóc trời ơi ở giữa đồng. Còn người còn của lo gì.

- Hạt thóc ở tuyến đường này bây giờ nó khác chi viên đạn, khác chi giọt máu. Mình nấp trong hầm nó có chừa mình đâu, nó quẳng bom vào đầu mình. Chi bằng mình ra ruộng bám đồng, bám đất, cứu lúa lại khỏe hơn.

Nghe cái giọng khản đặc. Sim giật thót mình. Đúng chị Kén rồi. Chị nói chậm chạp, tách bạch từng lời vừa nói vừa suy tính đắn đo. Không một ai ngạc nhiên như Sim cả. Dường như những lúc này tiếng nói của chị không thể thiếu được. Có lẽ vì thế mà buổi họp nào cũng nhóm lên từ căn hầm chật chội nhà chị, nếu họp ở chỗ khác thì chị cũng bồng con, lách hầm địa đạo tìm bằng được. Chị vẫn nói đều bằng một giọng mệt mỏi nhưng đanh lại:

- Bom nào thì bom, nó cũng có nết có tật cả. Nó có quy luật nổ của nó. Việc chi mà phải thần hồn nát thần tính, sợ nó như sợ cọp? O La Thị Tám cắm tiêu vào họng năm trăm quả bom thì đã sao chưa? Anh Vương Đình Nhỏ suốt ngày quần nhau với bom, phá bom thông đường mà có bị sầy tí da nào đâu? Vụ gặt vừa rồi anh ấy đứng canh bom cho tôi gặt hối đám lúa đồng Kén đó. anh ấy bảo cứ gặt cách đó ba tầm cây cau đỏ là chẳng việc gì mà sợ. Để tôi gặt cho. Tôi quen cái loại bom này lắm, việc chi mà phải bàn lùi cho nhọc?

Từng câu nói của chị Kén như một dấu chấm cắt đứt cuộc bàn cãi. Mẹ Phận bắt lời ngay:

- Rứa đó! Phải mần ra rứa, nhưng nhà Kén cứ ôm con ngủ dần cho đỡ đói con mắt, gắng ăn thêm một miếng cơm lấy thêm giọt sữa cho cháu bú. Để tôi gặt cho. Tôi đi guốc trong bụng mấy quả bom nằm ăn vạ ở xứ đồng Tùng Cốc này rồi. Tôi xin gặt hối trước, cứu lúa xong rồi hãy phá bom.

Mọi việc đã rõ ràng. Chỉ cần bàn dần thêm cho cạn nhẽ và thu xếp mọi công việc như lên phương án tác chiến. Cái không khí của một vụ gặt dữ dội như cuốn hút Sim vào con mắt bão.

Những trái bộc phá đánh bom nổ chậm nổ rất đanh nhưng tiếng dội rền trong lòng đất. Công binh chỉ mở một dải đất hẹp theo con đường phải mở cho xe đi. Những chiếc xe húc cứ lầm lũi gan góc lấp những hố bom như những con trâu cày nhẫn nại.

Chốc chốc lại có tiếng bùng bục nổ trên bầu trời như tiếng vỡ của quả trứng ung. Một con mắt cú vọ hấp háy mở ra, vàng khè, lơ lửng treo ngay trên đỉnh đầu. Một chùm bom bi mẹ vỡ bung đổ ra những trận mưa những quả bom bi con nổ chí chát như ngô rang.

Con đường mạch máu vẫn gan góc bò trên miệng những hố bom theo vòng xách cần cù của những chiếc xe ủi đất và đôi mắt cay xè đói ngủ của những tay lái gan dạ.

Mẹ Phận dẫn đội gặt giành giật lúa đồng Tùng Cốc, lợi dụng pháo sáng, ra bám lấy trận địa của mình. Mẹ lầm lũi cầm nắm hương cháy lập lòe, lần mò đến nơi quả bom nằm ăn vạ. Tuy mẹ nói rất cứng, nhưng có dễ gì mà quen được với cái của nợ giết người lì lợm ấy. Mẹ rẽ lúa thận trọng bước lên từng bước. Tay mẹ chạm phải những bông lúa nặng trĩu. Tiếng những vỏ thóc khô vàng chạm vào nhau rào rào, chắc nặng, nghe càng thêm vững dạ.

Sim cũng giành phần một chiếc liềm vỏ đạn đồng, đòi đi theo gặt. Mẹ biết có lạy van nó cũng chẳng chịu về cho đâu. Khốn nỗi, thế là hôm nay nó cũng chẳng chịu chợp mắt lấy một tí để mai giữ sức đi đường. Con đường ngày mai dài lắm.

Hai mẹ con rất gần nhau, chỉ trong tầm tiếng gọi thôi. Nhưng không hiểu sao mẹ cảm thấy xa xôi quá. Lòng mẹ nao nao như vừa đánh mất một cái gì. Còn biết bao nhiêu điều mẹ muốn bàn bạc khuyên nhủ nó, không biết rồi có kịp nói cho hết ngọn ngành, cạn nhẽ không. Tay mẹ sờ soạng và chạm phải một cánh thép lạnh. Mẹ cắm cọc tiêu có buộc nén hương cháy dở vội vàng rồi xoay chân hấp tấp lùi ra xa. Ngực mẹ như muốn vỡ. Lúa ngả bông vàng nặng trĩu như muốn níu mẹ lại và mẹ cảm thấy mồ hôi vã ra lạnh toát. Mãi một lúc lâu mẹ mới nhớ ra là mình cần phải quay lại, phải cắm cọc tiêu cho thật chặt để mắt bà con trông chừng đốm hương cháy và gặt, phòng khi quả bom tự hủy bất thường.

Con gái mẹ ở góc ruộng kia. Ngày mai nó đi xa.

Mới qua được một lần đầu. Đêm nay mẹ giành phần căm tiêu cả mười sáu quả bom. Máu người là quý lắm, nên mẹ không cho ai thay mẹ. Mẹ rẽ tạt qua chỗ Sim. Sim níu tay mẹ van xin:

- Mẹ đưa con cắm tiêu quả thứ hai.

Mẹ cười lặng lẽ, tiếng cười bị lạc hẳn đi, mẹ cố tìm một câu nói đùa cho vui, nhưng tìm không ra.

- Đáng lý ra o phải ở nhà mà ngủ cho no mắt, lấy sức mai đi. Cho o ra đây là quá linh động rồi đó. Vớ vẩn kỳ kèo là tôi đuổi về hầm thì đừng có trách.

Rồi đột nhiên bàn tay thô gày của mẹ sờ sờ trên khuôn mặt Sim, như cố nhận ra từng nét một. Mẹ nói trong hơi thở ngột ngạt:

- Gắng mà học cho chăm, nhớ viết thư về nhà cho mẹ mừng, ấy là tao dặn trước, kẻo vội quá là quên mất. Mà mẹ có thế nào, thì con vẫn còn làng còn nước, nhớ mà viết thư về, ăn ở cho phải đạo.

Rồi mẹ lại mất hút trong bóng đêm đầy tràn tiếng cọ sát nặng chắc của những bông lúa rào rào khô nắng. Mẹ đang đi đến quả bom thứ hai. Sim cố lắng nghe tiếng chân mẹ lội trong bùn nhưng tiếng xe ủi đất mở đường, tiếng gió rung bông lúa reo vui át mất.

- Hộ một tay với Sim ơi!

Sim nhận ra tiếng gọi của Huân. Hai đứa hì hục kéo cái hầm Cồn Cỏ đan bằng rơm mới lên chỗ ruộng sắp gặt, bỏ lại phía sau những bó lúa xếp cao, gọn ghẽ. Những bó lúa nặng trĩu trên những đôi vai tròn của con gái ngã ba rào rào chảy về hầm.

Huân là cô giáo mới tốt nghiệp trường sư phạm cấp tốc ba tháng. Các em bé vùng ngã ba cần được học lên cấp hai. Huân xin về đây mở lớp. O cùng một lứa tuổi với  Sim nhưng đã đĩnh đạc, điềm đạm ra dáng cô giáo lắm rồi. "Mẹ gan chi gan rứa", không biết Huân nói hay Sim buột miệng nói ra điều mình đang nghĩ. Làm sao mà phân biệt được? Chắc hẳn Huân biết mình chỉ là đứa con rơi được mẹ nhặt về nuôi nấng bù chì từ tấm bé. Nhưng chưa chắc Huân đã biết được mẹ yêu mình đến chừng nào. Thật khó tìm được người mẹ nào yêu đứa con đẻ rứt ruột ra được như thế.

Hai đứa nhoài người vơ lúa cắt vội vã, nhưng đều bấm bụng ngắm chừng hướng mẹ đi đến quả bom thứ hai. Mỗi lượm lúa chín ngả nặng trĩu trên cánh tay là mỗi bước mẹ gần cái chết đang nằm ăn vạ giữa những góc lúa hiền lành. Nghe tiếng liềm ăn ngọt cắt ra, Sim biết Huân vẫn bám sát bên mình. Chắc là Huân cũng biết đời mẹ gian truân lắm. Thời con gái mẹ làm bạn với một anh chàng thợ bạc phố huyện. Số trời bắt mẹ hiếm hoi. Mẹ tự cho mình có tội nặng với chồng, nghĩ quẩn nghĩ quanh thế nào mẹ lại đi lén lút hỏi vợ cho chồng. Để rơi vào cảnh cả lẽ, bị ruồng bỏ cay cực. Từ ngày cách mạng, mẹ mới có niềm vui. Mẹ nuôi nâng chăm bẫm cho những đứa con nuôi, những đứa con chiến sĩ, lo việc xóm việc làng. Sim chỉ là út trong năm anh em mẹ bù chì khi còn trứng nước. Các anh mỗi người chiến đấu ở một chiến trường xa, và ngày mai Sim cũng phải đi đến một nước bạn xa xôi. Sim thấy lòng mình bịn rịn.

Mẹ vẫn đang từng bước đi cắm tiêu vào họng những quả bom hiểm độc. Khối thuốc nổ lỳ lợm có thể bất cứ lúc nào tự hủy nổ bùng. Nhưng mẹ không cho ai thay mẹ. Mẹ chỉ nói một câu buông lửng: "Tao già rồi...". Mẹ cười, nụ cười kéo giãn những nếp nhăn trên khóe miệng, làm mẹ như trẻ lại.

Từng nhóm chị em trông chừng đốm nhang cháy do mẹ Phận cắm để gặt giật lại từng bông lúa có thể gặt được.

Huân vừa gặt vừa rủ rỉ nói chuyện:

- Mình đã kiếm được một tấm bảng rồi. Nhỏ thôi, cái cánh cửa nhà mẹ Xu ấy mà. Thế mà còn tốt chán. Chỉ cần đào xong hầm nữa là trường cấp hai của tớ khai giảng thêm lớp 5B.

Sim vừa lắng nghe niềm vui không giấu được của cô giáo trẻ, vừa vơ lúa gặt. Chắc là mẹ đang đến gần quả bom. Mẹ đang nghĩ gì? Hẳn là mẹ lại nghĩ đứa con gái của mẹ thôi.

- Bom đốt sạch vở của mình rồi, thế có tức không chứ! Mình phải đi hàng chục cây số để xin sách cũ, không xin được thì phải chép. Mỗi lần đi qua truông Kén, phải vác một cái hầm cá nhân chống bom bi kết bằng chăn bông. Bom bi mẹ vỡ bọng trứng thối trên đầu là phải lập tức cuộn tròn lại như con tầm nằm trong kén ấy. À, đi rồi, cậu nhớ gửi cho trường một cái bản đồ nhá! Bản đồ Việt Nam, bản đồ thế giới, bọn mình chưa có. Mới chỉ có đất để đào hầm và một cánh cửa cháy dở làm tấm bảng thôi. Nhưng nhất định trường sẽ mở thêm lớp phổ thông, rồi phải mở thêm lớp bổ túc văn hóa cho cán bộ chủ chốt, cho chị em ba đảm đang... Còn bao nhiêu là việc nữa.

Mỗi lần rẽ lúa đến sát một quả bom, mẹ Phận lại thấy những bông lúa ngả vào tay mình như đứa trẻ thơ hay làm nũng. Mẹ với nói chuyện với Sim, mẹ nói to những ý nghĩ một mình trong bóng tối. Mẹ biết lắm, nhưng mẹ cứ rủ rỉ nói và cảm thấy vững dạ hơn.

- Giờ này con ở đây với mẹ giữa cánh đồng này. Tí nữa gà gáy sáng canh, con đã đi đến chân trời góc biển. Ừ thì con ở tuổi bay nhẩy, mẹ có giữ con đâu...

Mấy chú gà giò cất tiếng gáy non choẹt, y như tiếng của những cậu bé mới vỡ giọng, tiếng gà gáy trong đáy hầm giữa lòng đất ngã ba. Gà làng này khôn lắm, không bao giờ gáy nhầm vì ánh sáng của pháo đèn dù và lửa bom. Bóng đêm đã loãng dần, có thể nhìn thấy những đoàn xe đang cướp bóng tối để lao vào tuyến phía nam. Thợ gặt cũng dồn sức gặt hối hả.

Mẹ Phận bàn với mấy o dân quân chuẩn bị phá bom ngay để lấy đất cày ải. Mẹ đưa mắt tìm con gái trong những dáng thấp thoáng của đoàn người gánh lúa. Tội nghiệp, con đường ngày mai dài lắm mà nó chẳng chợp mắt được lấy một chút.

Mẹ Phận vác một chiếc chăn bông lớn rẽ sương đậm đặc dẫn Sim băng qua eo truông Kén. Phải đi sớm để tránh cái giờ bọn Mỹ thả bom buổi sáng. Sim bảo mẹ cứ ở nhà, nhưng mẹ không chịu nghe.

- Mẹ đi để che bom cho con đấy phỏng? Sao mẹ không đi ra Hà Nội, sang Liên Xô mà giữ con gái của mẹ? Mẹ cứ làm như con còn bé bỏng lắm ấy!

Nói gì thì nói cũng chẳng xiêu được lòng mẹ. Mẹ lại chửi té tát dăm câu cho mà biết. Mẹ đã tính sẵn rồi, vừa đi vừa lựa lời, mà mãi vẫn không sao nói ra được cái điều từ lâu mẹ vẫn se buộc sẵn trong lòng.

Con đường xế ngã ba đã hiện ra trước mắt, trườn trên những hố bom chi chít. Chỉ một lát nữa chúng nó ầm ầm kéo đến giội bom. Những ngả đường này lại bị nuốt chửng đi trong đáy miệng há hoác của hàng nghìn hố bom mới.

Đã đến chỗ phải chia tay, mẹ vuốt mớ tóc dày của Sim, căn dặn, rồi mẹ chỉ cho Sim biết nơi sẽ xây đài kỷ niệm ngã ba thép, đài liệt sĩ, nơi xây lại làng... chỗ dành cho bệnh xá, đất dành để làm trường học, sân phơi, nhà kho... Tất nhiên làng sẽ dịch lên núi, chứ hơi đâu mà lấp cho hết bốn trăm mẫu đất toàn hố bom chi chít. Chỗ ấy thằng Mỹ đã đào hộ cái hồ thả cá không công rồi. Mẹ nói biết bao điều, nhưng cái điều mẹ đã kết mãi trong lòng vẫn chẳng làm sao nói được. Thôi để nó tự lo liệu vậy, nó là đứa biết suy nghĩ, mà cuộc đời hôm nay khác rồi.

Sim tìm lối rẽ trên miệng những hố bom để băng qua ngã ba, ngoái lại vẫn thấy bóng mẹ đứng trên eo truông Kén. Mẹ ơi, mẹ đừng nhìn con mãi thế? Nơi ấy bom tọa độ giặc Mỹ thường cắt luôn, nơi ấy còn nhiều bom nổ chậm. Sao mẹ vẫn đứng đấy nhìn theo con.

Con đường dẫn Sim đi đến nước bạn xa xôi, con đường cuộc đời Sim, và xa hơn nữa là con đường tìm tòi sáng tạo đi đến những đỉnh cao khoa học. Còn biết bao nhiêu ngã ba và nẻo quặt chờ phía trước, bắt Sim phải tìm ra phương hướng của mình. Sim cảm thấy chắc chắn là, không bao giờ Sim quên cái ngã ba đất đỏ luôn tìm được hướng đi vào cuộc chiến đấu sau mỗi trận mưa bom khốc liệt, không quên cái làng hầm gan góc ôm lấy ngã ba, không quên những dũng sĩ mở đường, không bao giờ quên đôi mắt mẹ sâu thăm thẳm nhìn theo gót chân con tìm lối đi trên miệng những hố bom chi chít. Sim biết nếu mình không quên con đường chính Sim tìm thấy trên ngã ba đất đỏ này, thì Sim sẽ không bao giờ lạc lối trên bước đường đời, trên con đường đi vào khoa học.

Sim đặt hết niềm tin vào con đường phía trước, như người chiến sĩ lái xe ra mặt trận, đặt cuộc đời mình với trọn vẹn niềm tin cậy trên con đường ngã ba này.

1969

 

 

In tin Lên đầu tin

Phản hồi bài viết:

Tiêu đề:  
Nội Dung:  
Họ tên:  
Email:  
(*: Cần nhập đủ thông tin)

Danh sách Phản hồi: