Biểu Quyết

Bạn biết website của chúng tôi qua kênh thông tin nào?

  •   Internet
  •   Báo chí
  •   Nghe bạn bè giới thiệu

Biểu quyết

Xem kết quả

Số lượt truy cập: 11402055

Đang online: 15

» Văn & Thơ » Văn Xuôi

TRẦN ĐÌNH VÂN

-- Ngày cập nhật:15/4/2017

Tên thật là Trần Duy Tân. Bút danh: Thái Duy; Sinh năm 1926; Nguyên quán: xã Cát Quế, huyện Hoài Đức, tỉnh Hà Nội. Ủy viên Ban chấp hành Hội nhà báo Việt Nam (khóa 5). Tác phẩm chính: Gặp gỡ; Hải Phòng anh dũng; Sống như anh; Nguyễn Văn Trỗi và đồng đội.

 

Bác Hồ tiếp đoàn Đại biểu Hội văn nghệ giải phóng Miền Nam năm 1966 tại Phủ Chủ Tịch. Ngoài cùng bên phải là nhà văn Trần Đình Vân.

 

SỐNG NHƯ ANH

(Trích bút ký do Phan Thị Quyên, vợ liệt sĩ Nguyễn Văn Trỗi kể)

 

Sáng sớm đến lượt tôi đun nước uống cho các anh tù bị chúng bắt làm lao công xây dãy nhà giam nữa. Tôi đun nồi nước chưa sôi thì có tiếng một tên mật thám gọi: “Phan Thị Quyên, mang tất cả đồ đạc lên văn phòng ngay”. Tôi đoán chắc bọn chúng gọi tôi đi đâu rồi. Thường mỗi lần chúng gọi tù nhân như vậy là chúng đưa người đó đi đày nơi khác. Nhiều anh đương làm xung quanh: chặt sắt, gánh hồ, khiêng gạch… bỏ cả công việc chạy tới quanh tôi. Mỗi anh có một câu an ủi tôi, động viên tôi: “Đi đày ở bất cứ nhà tù nào cũng cố gắng sống cho xứng đáng là vợ một chiến sĩ cách mạng kiên cường như anh Trỗi”. Lúc này tôi chỉ mong mỏi có một điều thôi: sao anh Trỗi biết tin tôi bị đi đày để nếu bẵng đi lâu không thấy tôi đến thăm anh, anh đỡ lo. Tôi dặn đi dặn lại các anh:

- Em đoán sau này anh Trỗi khỏi bệnh, chắc chúng đưa anh về giam ở đây hoặc nếu các anh đi trại giam nào khác, gặp anh Trỗi, em nhờ các anh nói hộ với chồng em là thời gian ở đây lúc nào em cũng khỏe mạnh, cũng mập, cũng vui vẻ. Các anh nói hộ là em đã bị chúng đưa đi đày ở nhà tù khác, chưa hiểu chúng đưa đi đâu. Nếu mà em chưa đi thăm anh Trỗi được thì anh cũng hiểu hoàn cảnh của em đừng có lo ngại gì. Em được thả ra sau này thì chúng nó có kết án anh đến khổ sai chung thân em cũng ráng đi làm nuôi anh ấy.

Một chú mang nhiều thương tích trên vai, trên cổ, gia đình gửi cho quà bánh vẫn san sẻ cho tôi, nói:

- Cứ yên tâm, thế nào gặp anh Trỗi, các chú cũng nói cho anh biết vợ anh ở trong tù như thế nào để anh mừng. Chả mấy mà thống nhất, vợ chồng thế nào cũng được gặp nhau. Ráng lên!

Các chú, các anh rất coi trọng anh Trỗi và thương tôi, người Nam, người Bắc, người Trung đủ cả, hầu hết què quặt ốm đau. Nhiều người tù đã lâu năm qua các thứ trại giam: B.42, Lê Văn Duyệt, Phú - Lợi, Biên-Hòa, Thủ-Đức, Gia-Định, rồi mới tới trại giam tổng nha này.

Tôi chạy về đến dãy phòng giam phụ nữ thì các má các chị cũng đều biết tin tôi và mấy người nữa trong đó có cả bé Dân và bà nội bị đi đày. Các má, các chị mang quần áo, xà-bông, khăn tay và cả thức ăn nữa gói ghém bù đắp cho tôi, sao cho tôi đi trại giam khác đỡ bị thiếu thốn. Ai cũng dỗ tôi đừng khóc nhưng mắt người nào cũng ướt đẫm. Y, chị “giáo sư” dạy tôi hát và thêu lại căn dặn tôi, vẫn một câu rất ngắn: “Nhớ ca hát nhiều hơn khóc, và nếu có khóc thì đừng khóc trước mặt kẻ thù”.

Còn vài phút, tôi tranh thủ nói lại với các má, các chị mấy câu vừa nói với các chú, các anh ngoài chỗ xây nhà. Khi tôi dắt bé Dân ra đến ngoài sân, chị X lại gọi tôi, chị vẫn chưa yên tâm, chị dặn thêm: “Tới trại giam nào chăng nữa thì cũng nhớ kỹ địch hay dùng tình cảm yếu đuối của vợ để dụ dỗ chồng. Vậy phải cảnh giác, kẻo mắc mưu chúng nó lại làm phiền anh Trỗi”.

Không ngờ lên tới văn phòng trại giam, đợi hơn một giờ đồng hồ sau, sự việc diễn ra trái ngược hẳn lại. Chúng thả tôi, bé Dân và bà nội ra. Không hiểu sao. Tôi định quay xuống nhà giam báo tin cho các má, các chị, nhưng bọn chúng ngăn lại.

Anh hùng Nguyễn Văn Trỗi trước pháp trường.

 

*

*                      *

Ở nhà tù ra, tôi trở lại xưởng làm việc, vẫn ở bộ phận đóng bông goòng vào hộp. Tôi cố làm thêm giờ trưa và tối để có tiền nuôi anh và trả nợ vay sắm sửa may mặc dạo làm lễ cưới. Thời gian này, chúng chuyển anh sang bệnh viện Chợ Quán. Điều kiện vào thăm các bệnh nhân tù trong bệnh viện này hết sức khe khắt, đặc biệt đối với những người tù chưa thành án. Lần nào vào thăm anh, tôi cũng khóc và không phải riêng tôi, thân nhân các bệnh nhân tù không ai nín nổi. Chúng dã man quá. Tôi đứng ngoài cổng sắt chỉ hở một lỗ nhỏ vừa để hai mắt nhìn vào sân nhà giam. Anh đứng bên trong một lần tường thấp và chắn song sắt, cách tôi tới mười lăm thước. Tôi trông rõ anh nửa người, còn anh thì may ra chỉ nhìn thấy non nửa mặt tôi mà thôi. Tôi không cố la lên để anh nhận ra tiếng nói thì anh cũng không hiểu hai mắt người ngoài cổng kia là ai nữa. Hai chục người tới thăm chồng con cũng chỉ qua một lỗ nhỏ như vậy, người này ghé mặt nhìn có khi chưa thấy rõ người nhà thì người khác chen vào.

Ngày đầu tôi tới chờ bên cổng sắt, một bà bảo tôi và hai chị nữa đứng cạnh: “Bốn năm tôi mới biết tin chồng tôi bị giam ở đây. Lần trước tôi chưa được nhìn rõ chồng tôi, mới có con trai tôi đây trông thấy bố mà thôi. Lát nữa các cô nhường tôi nhìn lâu lâu chồng tôi vì mai mốt tôi lại quay về Huế rồi”.

Đứa bé trạc tám tuổi, lần trước thoáng thấy bố đã luồn theo chân một thằng cảnh sát lọt vào sân định chạy vào với bố nhưng đã bị bọn chúng đuổi theo bắt lại. Chúng đánh em đau và lại ném em ra ngoài cổng. Cạnh cổng sắt có một cửa ra vào để bọn cảnh sát đi lại và tên gác cổng nhận quà của người nhà các bệnh nhân tù. Một lần lợi dụng lúc tên gác cổng nhận quà bánh của tôi gửi cho anh, tôi cố giữ cánh cửa lại để anh trông rõ tôi một hai phút. Mừng quá, anh la lớn:

- Được thả rồi phải không?

- Vâng.

- Có mạnh không em?

- Em mạnh lắm.

Anh chống nạng lê ra đứng dựa vào chắn song sắt tay với ra ngoài vẫy tôi. Tôi chưa kịp hỏi lại anh câu nào thì tên gác cổng đã đóng sầm cửa lại.

Tôi chạy vội ra ngoài cổng sắt bám lấy cái ô vuông nhỏ nhìn anh. Anh vẫn nắm hai tay vào chắn song sắt nhìn ngơ ngác ra phía cổng. Tôi gọi tên anh, tôi thò cả cánh tay tôi qua ô vuông sắt vẫy anh. Thằng cảnh sát bên trong trông thấy chửi ầm ĩ, nó vơ đá ném nhưng may không trúng cánh tay tôi, hòn đá văng vào cánh cửa sắt vang lên một tiếng động chói tai. Anh thương tôi quá, anh gào lên:

- Quyên, thôi nửa tháng hãy vào thăm anh một lần. Một tuần mấy lần thế này thì khổ em quá. Nghe rõ chưa, Quyên!

Tôi cố nín khóc trả lời anh:

- Không, khổ gấp mười thế này em cũng vẫn vào thăm anh, đừng lo việc đó, anh Trỗi.

Tôi mong mang được đều thức ăn vào bồi dưỡng cho anh. Tôi tìm mọi cách gần anh; lúc này tôi biết bệnh viện Chợ Quán thường giết dần, giết mòn bệnh nhân tù. Chúng cho bệnh nhân tù ăn uống rất cơ cực, bẩn thỉu. chúng bắt bệnh nhân tù ở lẫn với người mắc chứng bệnh hay lây: hủi, ho lao… Tôi cố gắng nuôi anh, sao anh chóng khỏe, lành lặn để may ra tới lần thứ ba anh có sức vượt ngục được.

Mẹ tôi cũng đòi vào thăm anh, nhưng tôi tìm cách giữ mẹ tôi ở nhà. Mẹ tôi đến chỉ đau khổ thêm trước cảnh mẹ con gặp nhau không nói nổi câu nào. Mẹ tôi nhất định đi, mang theo cái Cần, em út tôi. Mẹ tôi bảo:

- Tao nhìn thấy nó một phút, một giây thôi cũng được, tao nhớ nó lắm.

Mẹ tôi rất thương anh. Mẹ tôi có mười một người con nhưng tới anh là con rể lại tin yêu nhất. Dạo xóm lao động Khánh - Hội cháy, anh và một số anh em công nhân bỏ việc chạy sang chữa cháy. Chính anh đã khuân vác hầu hết đồ đạc nhà tôi ra được bên ngoài. Từ đó, anh rất được mọi người quen biết mến phục, mẹ tôi thương anh, quý anh lạ lùng.

Tôi đành đưa mẹ tôi đi. Cũng may lần này tôi lại cố giữ được cánh cửa mở một hai phút. Mẹ tôi trông thấy anh la rất to:

- Tư ơi Tư, u đây, u vào thăm con, con có mạnh không?

Cái Cần cũng gọi anh tíu tít:

- Anh Tư, anh Tư!

Anh cười, anh cũng đang nói gì nhưng tôi không nghe nổi câu nào giữa những tiếng khóc, tiếng gọi của những người bên ngoài và bên trong nhà giam. Mẹ tôi khóc quá, mẹ tôi cứ loanh quanh ở cổng bệnh viện chưa muốn về. Mười mấy bà mẹ cùng cảnh đứng túm tụm, than thở với nhau: Một tên mật thám vừa ở trên xe ô tô xuống, tới gần chỗ các bà mẹ, nói:

- Lại gặp bà, đi đâu cũng gặp bà, cô ấy chắc ốm đau nên mang về đây phải không?

Bà má đó lạnh lùng quay nhìn nó không trả lời. Hóa ra là má M, tôi mới quen mấy ngày nay. Thứ tư tuần trước, trời mưa lớn, đúng vào giờ thăm bệnh nhân tù. Tôi bám cổng sắt, nhìn qua ô vuông nhỏ không nghe nổi vì tiếng nước mưa vẫn đổ xuống rào rào. Tôi tủi thân, tôi đứng bám cổng sắt khóc, người ướt đầm. Má M, đã mang áo đi mưa khoác lên mình tôi, kéo tôi vào đứng dưới một hàng hiên và an ủi tôi. Khi biết tôi là vợ anh Trỗi, má vồ lấy tôi nói: “Thế mà mấy lần gặp con má không biết”.

Thằng mật thám nói tiếp với má:

- Tôi đã bảo bà, bà cứ khuyên cô ấy đứng chào lá cờ, chào một lần thôi và công nhận cộng sản là bọn khủng bố thì được tha ngay, tội gì mà bốn năm năm cứ chạy hết nhà giam này tới nhà giam khác nuôi cô con gái cho khổ.

Má trả lời:

- Tôi đẻ ra nó, tôi chỉ biết nuôi nó thôi, còn nó có chào lá cờ của ông hay không, nó cho cộng sản là tốt hay xấu thì tùy nó, tôi không bắt buộc nó nổi.

Lần thứ mười tới thăm anh ở nhà thương Chợ Quán, tôi không còn gặp anh nữa. Tên gác cổng chỉ trả lời bâng quơ: “Chồng cô sắp khỏi bệnh nên trả lại nhà tù rồi”. Đúng như dự đoán của tôi, chúng đưa anh Trỗi về giam lại tại tổng nha. Sau này chính chị X tìm cách thoát ngục được đã tìm tôi và kể lại đầu đuôi câu chuyện anh Trỗi về nhà giam tổng nha như sau:

“Sáng ngày 4 - 8, sân nhà giam còn đông anh em tù đang làm lao công thì có một xe hồng thập tự tới đỗ ngay xế cửa phòng giam phụ nữ. Cửa xe vừa mở, các chị nghe tiếng người bên trong la lớn: “Tôi đi một mình được”. Rồi trông thấy một anh tù đang gạt tay hai thằng mật thám ác ôn. Nhưng anh không đi nổi, anh cúi xuống chống hai tay xuống sàn xe, kéo lê theo một chân cứng đờ, bó bột trắng toát. Anh chỉ mặc chiếc quần xà lỏn, áo sơ-mi xám. Khi anh vừa ngẩng mặt lên thì chị X. nhận ra ai rồi. Chị liền la lớn: “Anh Trỗi, anh Trỗi!” Toàn thể các má các chị xô cả ra hàng hiên, nơi bọn mật thám vẫn nghiêm cấm không cho tù nhân nào bén mảng tới. Ai cũng mừng rỡ xuýt xoa: “Chồng cái Quyên đây rồi, anh Trỗi, anh Trỗi!”. Như một luồng điện, tin anh Trỗi tới lan đi rất nhanh, từ phòng giam này vang sang phòng giam khác tiếng la mừng rỡ: “Anh Trỗi”. Tất cả các anh em tù chạy tới quây lấy chiếc xe hồng thập tự hỏi nhau luống cuống: “Anh Trỗi đâu, anh Trỗi đâu?”. Nhiều anh cởi trần, mồ hôi nhễ nhại, chân tay còn lấm láp vôi, đất, hồ… Anh Trỗi lúc đó bò ra tới thành xe còn đang tìm cách tuột xuống đất thì hàng chục cái lưng của anh em tù ghé vào bịt kín cả thành xe. Anh liền nhoài hẳn người ra ôm lấy một anh, hai tay bó chặt lấy mình, lấy cổ anh tù, má anh áp chặt vào má anh tù. Các anh khác vồ lấy anh Trỗi đỡ lưng, đỡ chân anh. Sự việc diễn ra nhanh đến nỗi bọn mật thám ngơ ngác, không sao đối phó nổi. Chúng quát tháo ầm ĩ: “Ai cho bọn chúng mày được đến gần thằng này, giải tán ngay!” Chúng lăn vào định lôi anh Trỗi ra nhưng không nổi. Chị em tù phụ nữ bám ở chắn song sắt la lớn: “Dã man, người ta bị thương còn khủng bố, dã man, dã man!” Các anh tù quây quanh anh Trỗi, chuyền tay cõng bế anh chạy vào nhà C tức là nơi bất cứ người tù nào mới tới cũng phải đợi trình giấy ở đó. Đặt anh Trỗi ngồi hẳn hoi trên một chiếc ghế, anh em mới ra tiếp tục làm lao công.

Ngay sáng hôm sau, ngày 5-8 khoảng chín giờ, chúng đưa anh Trỗi ra tòa. Anh Lời dìu anh Trỗi đi rất khó nhọc tới ngồi trong góc nhà đầu dãy phòng giam phụ nữ để chờ ô tô đưa đi”.

Nói tới đây, chị X kể lại với tôi rất chi tiết, chị gọi mười phút sống bên anh Trỗi là mười phút quý báu của đời chị:

“Mình ngồi cách anh có ba thước, chưa đến ba thước. Quyên còn lạ gì nữa, phòng giam phụ nữ đối diện ngay với cái bàn nhỏ của tên giám thị vẫn chuyên lo chạy xe chở tù nhân đi về. Anh Trỗi tới ngồi trên một chiếc ghế cạnh bàn. Anh mặc áo sơ-mi xám, quần xanh dài, đầu chải hẳn hoi. Khác với dạo Quyên vào thăm anh ở nhà thương, anh mập hơn, da hồng hào. Anh không cười nhưng nét mặt rất tươi, anh cứ nhìn bọn mình. Chúng đuổi, dọa đánh chị em không cho tới gần anh Trỗi. Bọn mình mười mấy chị em ngồi sụp cả xuống, cứ ngồi ì ra đấy, chúng phải chịu. Anh Trỗi ngồi xoay lưng nhìn thẳng vào phòng giam phụ nữ. Mắt anh nhìn lạ lắm như muốn cười, muốn nói gì với bọn mình. Bọn mình đã thầm nhắc nhau cố nói cho anh nghe những lời Quyên nhắc lại nhưng không nổi. Bốn thằng mật thám ác ôn nổi tiếng đã canh gác anh, trong đó có ba thằng không rời anh một bước. Chắc Quyên còn nhớ những thằng xếp Giáp, xếp Lực, Tám Hiều. Anh Trỗi vừa ngồi được một hai phút thì thằng xếp Lực, cái thằng ốm yếu mặt xương xương hỏi anh có vẻ giễu cợt:

- Sao anh còn trẻ, vợ anh tôi biết còn xuân lắm, mới cưới, như thế không lo hạnh phúc gia đình lại đi nghe Việt cộng xúi làm việc bậy bạ như vậy?

Anh Trỗi không nhìn bọn mình nữa, anh cười nhếch mép, nói:

- Bậy bạ à, tôi nghĩ đến tương lai của tôi, tôi thấy tôi làm đúng. Giết Mỹ lại là bậy bạ à?

Thằng xếp Lực hỏi tiếp:

- Làm thế sao gọi là làm đúng? Đấy, anh mang thương tật như vậy, nghe chúng nó xúi giục thì kết quả như vậy đấy.

Anh nói to hơn, nhìn thẳng vào mặt tên này:

- Không có ai xúi giục cả. Tôi căm thù Mỹ, căm thù thằng Mắc Na-ma-ra đã gây bao nhiêu đau khổ cho miền Nam cho nên tôi tìm giết nó.

Xếp Giáp, tên ác ôn khét tiếng của nhà tù Gia-Định ngồi ngay trước mặt anh, nói:

- Thì đến giờ phút này đã rõ ràng rồi, anh chưa thấy lợi gì mà chỉ thấy gãy chân vào tù.

Vẻ mặt anh mỗi lúc một căm giận, bàn tay nắm chặt lấy mép bàn, anh nói dõng dạc, chậm hơn mấy câu trước:

- Tôi nói với mấy người: Tôi làm việc phải, tôi giết bọn cướp nước thì dù nguy hiểm, dù thương tật hay hy sinh, tôi cũng vui lòng. Tôi không thể sống như bọn tay sai mong được an thân để làm hại đồng bào.

Thằng xếp Giáp vẫn mày chai mặt đá hỏi anh:

- Tay sai à?

Anh gật đầu. Bọn mình nghe anh nói hồi hộp quá Quyên ạ. Ba thằng ác ôn như mấy con hùm beo gầm gừ, lồng lộn quanh anh mà không sao uy hiếp nổi anh. Không có bài học bất khuất nào thấm thía đối với mình bằng lúc này. Mình thấy thật tự hào được đứng trong hàng ngũ có những người như anh, được là đồng chí của anh. Anh quay sang trái, quay sang phải, khí thế thực hiện ngang, anh trả lời ngay tức khắc từng câu nói đê hèn của chúng. Thằng xếp Giáp nói trắng ra:

- Nhưng mà đời bọn này có bao giờ khổ đâu. Lúc nào cũng thừa ăn, vợ con sung sướng. Đến bây giờ còn nói như anh, không có chút ân hận gì thì mong nhẹ tội sao được.

Anh khinh bỉ chúng nó quá, anh lắc đầu nói:

- Sống như các người, tôi không sống nổi, sống như thế thì thà chết còn hơn!

Thằng Tám Hiếu mặt luôn đỏ gay, cao lớn từ ngoài cửa bước vô. Nó cười chỉ vào chân anh:

- Chết đến nơi còn bướng, cái chân kia gãy chính vì nghe lời Việt cộng xúi giục.

Lúc này anh không thể nào chịu đựng được nữa, đột nhiên anh đứng phắt đậy, tay anh đập mạnh về phía trước, anh đứng thẳng như không hề có thương tật nặng ở chân. Anh bước đi mấy bước không thèm quay lại nhìn bọn ác ôn này, anh nói lớn:

- Các người thật đáng ghê tởm. Tôi không thèm nói với các người nữa.

Anh Lời đang ngồi dựa vào tường, vội bước nhanh tới bên anh, giữ tay anh, sợ anh ngã. Nhưng riêng mình, mình thấy lúc ấy anh khỏe lạ. Anh vẫn đứng thẳng nhìn ra ngoài trời.

Xe ô-tô vừa tới, chúng đưa anh đi ngay. Sáng hôm đó chúng đưa anh và anh Lời ra tòa. Bọn mình nhổm cả dậy gọi anh: “Anh Trỗi, anh Trỗi!” và vẫy anh. Hai tay anh bám lấy thành xe, anh quay lại nhìn bọn mình lần nữa.

 Suốt ngày hôm đó và cả tới những hôm sau rảnh lúc nào gần gũi được nhau, anh em tù lại bắt bọn mình kể lại mười phút quý báu được sống bên anh Trỗi. Và không ai bảo ai, từ đây mỗi lần có người bị gọi lên tra tấn hay đi đày, anh chị em tù thường động viên nhau:

“Bất khuất như anh Trỗi, sống như anh Trỗi!”

*

*                      *

Đường phố Sài Gòn lúc này thay đổi từng ngày một. Biểu tình cả về đêm nữa. Quanh nhà thầy u tôi, các anh em thợ sơn, phu khuân vác, xích lô, học sinh, công nhân nhà đèn, hãng đường… bỏ công việc, trương biểu ngữ công khai đòi lật thằng Khánh, kéo nhau đi vây tổng hành dinh của nó. Chính thằng Nguyễn Khánh đã ký giấy xử tử chồng tôi và bây giờ nó đang bị tất cả bà con cô bác trong thành phố lên án, chửi rủa. Hồi còn bị giam, đôi lúc tôi nghe được mấy anh chị bàn chỉ cần hai triệu dân Sài Gòn vùng lên nữa là bên trong đánh, bên ngoài đánh, thế nào cũng kết thúc nhanh số phận chúng nó. Tôi rất hồi hộp. Tôi cứ nghĩ miên man: Nếu mà được như thế thì ai làm gì thì làm chứ riêng tôi, tôi sẽ chạy tới nhà tù, tham gia phá bằng được để cứu chồng tôi. Nhưng nào tôi đã biết anh bị giam ở nơi nào đâu? Từ hôm 11-8 chúng tuyên án xử tử anh, tôi đã chạy tới tất cả các nhà tù để tìm anh.

Tôi lo lắng không biết tới khám Chí Hòa lần này nữa có gặp được anh không? Hay chúng cứ chỉ cho tôi đi hết nhà tù này sang nhà tù khác, trong khi chúng đã giết anh mất rồi. Tôi với văn phòng khu giam những người tử hình đưa giấy tìm anh. Tôi đang nóng lòng đợi một tên cảnh sát trả lời thì bỗng có tiếng gọi lớn: “Quyên ơi, Quyên, Quyên!”.

Tôi thoáng nhận ra tiếng anh. Tôi giật mình, vội quay ra: trên chiếc ô-tô bịt kín chỉ hở một cửa sổ nhỏ, anh đang áp mặt vào lưới sắt gọi tôi, vẫy tôi. Tôi bàng hoàng, tôi chạy theo xe, la lớn: “Mang chồng tôi đi giết rồi, tôi mất chồng tôi rồi!”. Chiếc xe rẽ nhanh ra phía cổng mất hút. Tôi đứng lại giữa đường còn mờ mịt bụi cát, nhìn quanh xem còn có cầu cứu được ai không. Tôi gào thét: “Anh Trỗi, anh Trỗi ơi!...” Tên cảnh sát vội thò đầu ra ngoài chiếc cửa sổ con, gọi tôi giật giọng:

- Này chị kia, làm gì mà ầm lên thế, người ta mang chồng chị đi chụp hình rồi lát nữa lại mang anh ấy về thôi. Giấy đây, đúng ba giờ chiều nay vào đây sẽ được gặp chồng.

Tôi vẫn chưa tin, tôi hỏi:

- Ông nói có đúng như thế không?

- Sao không đúng, có giấy đây.

Lúc đó tôi mới yên tâm. Đúng ba giờ chiều, tôi vào thăm anh. Trong phòng đợi của những người bị tử hình, anh đã đợi tôi từ lâu. Ngồi cạnh anh là một người bạn tù đã dìu anh từ trên từng lầu thứ ba xuống. Một tên cảnh sát ngồi trước một bàn con cách anh độ bốn năm thước, thoáng thấy tôi, người bạn anh đứng dậy đi ra phía cửa. Anh nhìn tôi, anh ngồi thẳng người hơn, tay không chống xuống nữa, anh mặc áo sơ mi trắng, quần xà lỏn sọc. Tôi cố cầm chiếc giỏ quà bánh để khỏi buông rơi. Tôi cố gắng làm như các anh chị trong tù vẫn căn dặn: phải biết chịu đựng, khóc lóc nhiều chỉ làm đau thêm người thân. Tôi cũng mong những ngày cuối cùng của anh, anh không còn phải bận tâm lo lắng quá về tôi. Nhưng nước mắt vẫn chảy ròng ròng trên má, thấm vào miệng tôi. Tôi định gọi anh nhưng cổ tắc nghẹn. Tôi mím chặt môi để khỏi òa lên khóc. Cứ thế tôi đến bên anh không nói được lời nào. Anh giơ hai tay ra đón tôi, anh nắm chặt hai cánh tay tôi, kéo xuống ngồi bên anh trên một chiếc ghế dài. Tôi gục đầu vào vai anh và lúc này tôi không nín được nữa. Tôi định nói, nhưng ngay gọi đến tên anh thôi cũng không nổi, tôi khóc chết lặng trên vai anh. Anh nhè nhẹ vuốt tóc tôi, một lúc sau anh mới hỏi:

- Chắc em ở nhà coi báo, em khóc nhiều lắm phải không?

Tôi nức nở nói không thành tiếng nữa.

- Thấy tin như thế thì em yên tâm sao được. Cô bác cũng khóc đến báo tin đông lắm. Em chạy đi tìm anh mấy ngày nay. Thầy đã làm đơn đi thuê luật sư xin ân xá cho anh.

Anh to vẻ không hài lòng, anh nói:

- Đừng mướn luật sư, tốn tiền vô ích.

Vừa lau nước mắt cho tôi, anh vừa hỏi:

- Vì anh mà em bị khổ lây, em có oán trách anh nhiều không?

- Em chỉ thương anh thôi, không dám oán trách anh. Em có lỗi nhiều với anh; vào tù các chị dạy dỗ, em càng ân hận, em khóc nhiều cũng vì vậy. Nhưng anh thông cảm cho em, chỉ vì không hiểu nổi anh hoạt động cho nên nhiều lúc em đã nghi kỵ, hờn dỗi làm phiền anh.

Anh nói:

- Gần sát ngày cưới, anh phải chuẩn bị gấp làm nhiệm vụ. Anh đi suốt ngày, anh đi suốt cả đêm nữa. Nguyên tắc hoạt động bí mật không cho phép anh nói lộ với bất cứ ai cho nên dạo đó anh cứ nói dối quanh với em làm em càng hoang mang, tưởng anh thay lòng đổi dạ rồi phải không? Anh rất biết, anh thương em lắm. Chúng ta cưới nhau chưa có nổi một buổi đi chơi cho thoải mái như anh vẫn ao ước, hứa hẹn với em. Anh biết anh đối xử với em như vậy là không đúng, nhưng anh không thể nào làm khác được. Có lúc em hỏi anh, anh trả lời lắm câu thật vô lý không ai tin nổi. Vừa mới cưới vợ xong mà tối nào cũng đi khuya, đi rất khuya. Chả dạo đó anh phải đi họp vừa đi thăm dò quy luật đi lại của địch để bố trí đánh chúng. Nhưng về vợ hỏi, chỉ nói được là “bận việc”, vợ hỏi lần khác thì lại nói “việc rất bận”. Anh ở vào hoàn cảnh của em, anh cũng thắc mắc. Anh thấy em tốt với anh lắm, chứ gặp người con gái khác chắc người ta kêu trời lên rồi, người ta làm ầm ỹ cửa nhà rồi. Anh biết em khổ tâm về anh nhưng anh chưa giải thích nổi. Anh vẫn cố làm cho xong nhiệm vụ rồi sau sẽ nói rõ với em. Bây giờ thì em hiểu rõ anh rồi chứ?

- Em hiểu anh ngay từ khi chúng còng tay anh đưa về nhà.

Anh lại nói:

- Từ khi chúng ta biết nhau, anh thường nói với em là anh rất ghét những kẻ nói dối, những kẻ lừa lọc. Đôi lần anh còn khuyên em không nên nói dối, dù trong việc nhỏ nhất. Thế mà thời gian qua, anh lại nói dối em, có phải không? Nói dối như thế không xấu gì cả, nói dối để làm nhiệm vụ cách mạng cho tốt thì chả sợ. Rồi sau này, em hoạt động như anh trong hoàn cảnh ở thành phố đầy những mật thám như Sài Gòn, cũng có lúc em phải nói dối để bảo đảm cho nhiệm vụ giữ được bí mật.

Tôi lấy cam định bóc cho anh ăn, anh giữ tay tôi lại, nói:

- Để lúc khác ăn, gặp em ở đây không được bao lâu, anh muốn căn dặn em một số việc. Dạo chúng đưa anh vào nhà giam tổng nha, các anh tù đã nói với anh đầy đủ những gì em nhắn anh. Các anh còn kể lại là em tiến bộ, biết nghe lời các anh các chị, hiểu được thêm nhiều. Anh mừng lắm. Lúc nào anh cũng hy vọng tìm cách thoát nhà giam của chúng, nhưng cũng phòng xa có khi địch nó liều lĩnh… Nếu không may xảy ra việc đó mà phải xa anh, em ráng theo các anh các chị ấy tham gia hoạt động.

Anh còn e dè, vẫn cố nói có vẻ xa xôi nhưng tôi đã hiểu ý định của anh lúc này, hiểu sự việc có thể xảy ra ấy tàn nhẫn đến như thế nào. Anh cầm khăn tay lau nước mắt cho tôi, giọng của anh cũng không đều đều như ban nãy nữa, anh nói nghẹn ngào rất nhỏ bên tai tôi:

- Các đồng chí của anh sẽ không bao giờ để em đơn độc đâu, em ở tù em biết đấy, hàng ngàn cô bác chứ chả phải riêng anh chịu mọi thứ cực hình mà vẫn một lòng đi theo cách mạng. Ngoài phố em gặp bao nhiêu người, không phải người nào cũng chỉ có đi làm kiếm ăn ngày hai bữa cả. Có nhiều người cũng tham gia cách mạng, mỗi người làm một việc. Nhiều người cũng mất chồng, mất con, mất anh, mất em vì chúng nó. Em cũng vậy, ráng cố gắng sao được tham gia hoạt động, được giao một việc dù là rải một tờ truyền đơn hay đi báo một tin vui.

Tôi nói với anh:

- Em chỉ lo không được tin cậy thôi, chứ em rất muốn làm những việc đó. Anh bị bắt như thế này, em lại càng mong được hoạt động như các chị ở trong tù.

Anh hỏi tôi sang chuyện khác mà anh kêu rất nóng ruột không biết sự thực như thế nào:

- Có phải tụi nó mang bom ra thả ngoài Bắc phải không?

- Vâng.

- Thế nó thả bom mấy lần?

- Có một lần thôi.

- Thế nào ngoài ấy có bắn rơi chiếc nào không?

- Dạ, bắn rơi bốn máy bay Mỹ.

- Thế ta có thiệt hại gì không?

- Chả sao cả, thiệt hại chút ít vài làng ven biển.

 Anh gật gật đầu, thích thú lắm, anh nói:

- Chúng nó xâm phạm đến miền Bắc thì chúng nó chết. Nhớ là nếu nó còn ném bom ngoài Bắc thì phải nghe ngóng tin tức cho thiệt kỹ rồi nếu còn vào thăm anh được thì nói cho anh hay.

Anh hỏi thăm nhiều tới tất cả mọi người quen, anh dặn tôi:

- Gặp họ hàng, bảo anh xin lỗi, hôm cưới cô bác đến đông đủ còn anh chả thăm hỏi được ai. U ở nhà buồn lắm phải không?

Thằng cảnh sát cắt ngang câu chuyện chúng tôi, nhắc đã hết giờ. Tôi đỡ anh đứng lên, hai tay tôi vẫn nắm chặt cánh tay anh. Tôi cảm thấy như rời anh lúc này có thể mãi mãi không còn bao giờ trông thấy anh nữa. Tôi cố hỏi anh một câu cuối cùng:

- Em có còn được gặp anh lần nữa không?

Anh ôm gọn tôi trong tay anh, anh hôn tôi. Hai má của anh ướt những nước mắt của tôi. Anh nhìn tôi, nói:

- Chắc là được gặp lần nữa. Em cứ tin như thế.

Anh gỡ đầu tôi, hai tay tôi còn nắm chắc vai áo anh, anh vuốt lại mái tóc tôi, anh khuyên tôi:

- Em ráng sống như các chị trong tù, ráng chịu đựng. Ráng vui lên!

Tôi đưa anh tới đầu phòng, đứng nhìn người bạn tù dìu anh rẽ khuất sang phía cầu thang lên từng lầu ba tôi mới về.

*

*                      *

Tôi mong cho chóng đến ngày 30 tháng 8. Không biết lần gặp tới có phải là lần cuối cùng của chúng tôi không? Tôi chuẩn bị sớm mọi thứ cần dùng cho anh. Tôi thêu trên tất cả quần áo, ba lô tên hai chúng tôi, khắc tên cả trên đôi đũa, chiếc ca nhựa. Tôi nhớ lại tất cả những bài thơ các anh các chị trong tù dạy tôi. Tôi chọn một bài mà tôi thích nhất, thêu trên một chiếc khăn tay mang tặng anh. Tôi thêu trọn mấy đêm, nắn nót từng mũi kim cho đẹp. Chắc anh ngạc nhiên lắm, khó tưởng tôi thêu nổi. Thêu xong tôi mang chiếc khăn về nhà thầy u tôi, nhờ bàn máy viền bốn góc khăn. Em tôi mang bốn câu thơ đọc cho thầy tôi nghe:

Dù cho sóng gió bão bùng,

Lòng em vẫn giữ thủy chung vẹn toàn.

Cầu mong anh được bình an,

Nước nhà thống nhất vinh quang anh về.

Nghe xong, thầy tôi la:

- Trời ơi! Chồng mày đã bị như thế, chúng nó lại đang theo dõi mày, chúng nó bắt được thì chúng nó đánh chết mày.

Tôi trả lời:

- Không sao đâu, con len lén mang vào cho anh ấy.

Sáng 30 tháng 8 đúng ngày vào thăm anh, tôi tới nhà lao Chí Hòa.

Tôi vừa đến văn phòng, thằng xếp trông thấy chỉ mặt nói ngay:

- Cấp trên cấm không cho chị nuôi Nguyễn Văn Trỗi nữa. Hôm trước chị vào nói gì mà để anh ấy làm dữ thế, tuyên truyền dữ thế?

Tôi cãi:

- Không, tôi vào chỉ thăm chồng tôi xem có mạnh khỏe không, tôi kể lể việc nhà cho anh ấy nghe, chứ có bàn gì đâu.

Nó gạt phắt:

- Không được vào, đã biểu như thế rồi. Lịnh của cấp trên đó!

Tôi nằn nì xin mãi không được, tôi nhờ nó mang vào cho chồng tôi các thứ thức ăn và trái cây, nó cũng từ chối. Tôi đành quay về. Ra tới cổng khám, tôi gặp má M… Trông thấy tôi, má khóc trước:

- Có phải chồng con bị chúng xử tử hình phải không?

- Vâng.

- Con vào thăm nó phải không?

- Con vào thăm anh ấy nhưng chúng ngăn cấm.

Má nhận đưa hộ tôi tất cả các thứ quà bánh vào cho anh. Má còn bày cho tôi cách chạy chọt xin giấy để lại được vào thăm anh. Thực may cho tôi. Chúng mới chuyển con gái má từ nhà thương Chợ Quán về khám Chí Hòa. Nhiều năm tới các nhà tù nuôi con, má vừa quen thuộc một số cảnh sát vừa có nhiều kinh nghiệm đấu tranh với bọn ác ôn. Mãi tới ngày 18 tháng 9, tôi mới có tin gọi đến khám Chí Hòa nhận giấy hẹn ngày vào thăm anh. Không ngờ tới nơi, tên xếp bảo tôi vào thăm anh ngay chiều nay. Nó còn nói thêm:

- Chồng cô theo đạo rồi đấy, ông cố đạo công nhận rồi.

Tôi vội chạy ra ngoài cổng khám, gặp thứ gì tôi cũng mua. Tôi mua nhiều nhất là trái cây. Anh Trỗi không biết hút thuốc lá, không nghiện trà, nhưng rất ưa trái cây. Tôi ôm một bọc quà, chạy vào phòng đợi của những người tù tử hình. Tới bên anh, tôi vội hỏi ngay:

- Anh đợi em lâu lắm phải không?

Anh kéo mấy sợi tóc dính trên má, trên trán tôi còn đẫm mồ hôi và nói:

- Đợi cũng lâu, em làm gì mà mệt dữ thế?

Tôi vừa thở vừa nói:

- Em cứ tưởng hôm nay không gặp được anh đâu nên không mang ba lô, quần áo vào cho anh. Hôm nay tới xin giấy, cứ tưởng nó hẹn mai hay mốt mới được gặp anh. Không ngờ nó bảo mấy ngày sắp tới đây nhà tù có việc đặc biệt, có thăm thì thăm ngay chiều nay. Em vội chạy ra phố mua quà cho anh, rồi chạy vô đây sợ anh chờ lâu.

Anh nhìn các thứ quà, nói:

- Em mua nhiều quà tốn tiền. Anh không cần nhiều thế này đâu. Để tiền trả món nợ vay dạo cưới nhau.

Tôi nói:

- Anh đừng lo tới món nợ đó, em thu xếp, trang trải sẽ xong. Có phải

anh mới theo đạo không anh? Nó bảo ông cha vào rủ anh theo đạo rồi.

Anh kinh ngạc hỏi tôi:

- Ai bảo?

- Lúc em xin giấy ở văn phòng, chúng nó nói như vậy.

Anh liền giải thích ngay:

- Chúng nó nói tầm bậy đấy, anh đâu có. Cũng có cha cố đến dụ dỗ anh theo đạo nhưng anh từ chối. Em đừng tin chúng nó nói gì cả. Chúng nó cố tình tung tin để anh em bên ngoài tưởng là anh dần dần theo chúng.

Tôi nắn chân anh, hỏi:

- Anh tháo băng bao giờ vậy?

- Anh mới tháo băng hôm 15 tây. Ba má có mạnh khỏe không?

- Ba má cũng mạnh, con Cần nó cứ đòi vào thăm anh. Em định mang cả thằng Dân vào, nhưng lúc này bọn mật thám theo dõi chặt lắm nên em chả dám đến chơi nhà ai nữa, ngại người ta lại bị chúng nghi ngờ oan.

Anh hỏi tôi:

- Hôm Cần tới nhà thương thăm anh về nó có nói gì không?

- Nó về khoe nó thấy anh Tư, anh Tư chống hai cái gậy, anh Tư cười với nó.

- Anh thương nó quá, nó vẫy anh, cái tay bé tí xíu, nó gọi: “anh Tư, anh Tư!” Anh muốn chạy ra ôm lấy nó mà không sao được. Cuối tháng này có thể lại được vào thăm anh đấy, em nhớ mang cái Cần vào chơi với anh. Còn thằng Dân thì khi nào gặp nó, nhớ mua quà bảo chú Trỗi gửi cho. Nó cũng như anh lúc bé, nó thiếu tình cảm lắm. Vắng anh, em đừng quên nó, săn sóc nó cho anh.

Lúc này tôi nói nhỏ hơn nữa với anh:

- Lần trước anh làm gì mà chúng nó kêu anh tuyên truyền dữ, chúng nó đuổi không cho em vào thăm anh?

- Anh truyền tin cho anh chị em biết, cho anh chị em mừng là bọn Mỹ đưa máy bay ra ném bom ngoài Bắc không gây được thiệt hại gì lại bị quân ta bắn rơi nhiều máy bay. Anh chị em phấn khởi lắm, khám tử hình sôi nổi hẳn lên. Bọn ác ôn không còn nói láo được nữa.

- Thế chiều 30 tháng 8 em không vào được, anh mất vui phải không? Bà má M. nhờ người chuyển quà vào cho anh về nói là hôm đó anh đứng ngồi không yên.

Anh cười:

- Anh đợi hoài suốt trưa, hồi hộp chờ người gọi xuống gặp em. Nhớ em quá, giấu được một tấm hình em trong người nhưng sau chúng lại khám thấy, chúng xé mất. Đợi suốt đến chiều cũng không thấy gì, anh lo không hiểu em ốm hay là chúng nó lại bắt em rồi.

Lúc này một chị tù ở trên khám tử hình bước xuống, tới ngồi ở một đầu ghế dài, ngay cạnh chúng tôi. Mẹ chị khóc sùi sụt, thỉnh thoảng mới lại nói một câu, giọng Huế.

Tôi kể cho anh nghe về những người thân bên quê nội ở Quảng Nam tìm cách vào thăm anh những không được. Nghe xong, anh hỏi tôi:

- Thế mấy anh còn ở đây hay về rồi?

- Mấy anh về xứ rồi.

Anh dặn tôi:

- Em nhớ viết thư về Quảng Nam báo là anh mạnh. Còn anh Bảy, anh Bảy về chưa?

- Anh Bảy về rồi.

Anh nói có vẻ thương hại: - Em về bảo anh hỏi thăm anh Bảy. Vì chung một căn nhà với nhau mà anh ấy cũng bị bắt theo. Bảo anh ấy đừng lo buồn và đừng bán nhà, cứ ở không sợ. Anh ấy bán cái nhà đi thì em đi ở đâu?

Một tên cảnh sát đến đưa cho tôi một lá đơn. Anh cầm lá đơn nhìn hình tôi, hỏi:

- Em chụp hình lúc nào thế này?

- Em mới chụp để có hình dán vào đơn xin vào thăm anh.

- Trông bức hình em yếu quá, xanh quá.

Và vẫn chưa hết băn khoăn, anh nhìn tôi, hỏi:

- Em xanh thật, sao em xanh như vậy?

- Em thấy mạnh, chả đau yếu gì cả.

Anh hỏi tôi:

- Nhà bên có còn cho em sang tắm nhờ không?

- Các bác vẫn tốt với em.

Anh nhắc tôi:

- Mấy cái bậc nhà tắm cao lắm. Em xách nước từng nửa thùng một thôi kẻo té thì khổ.

- Anh đừng lo cho tới cả việc nhỏ nhặt này nữa. Em khác trước nhiều rồi. Dạo này em khỏe. Ban đêm em ra sân một mình không sợ nữa.

Rồi anh chuyển sang chuyện khác:

- Thế ở bên ngoài tình hình ra sao?

Tôi nói:

- Biểu tình cũng đã ít đi, vì bọn chúng đã phải nhượng bộ. Hôm đảo chính em hồi hộp quá trời, em thức suốt đêm đợi xem có súng nổ không. Tới sáng tình hình lại tạm ổn, em buồn quá. Nhưng bên ngoài đánh mạnh lắm. Anh em tài xế về xóm nói dạo này gặp “Giải phóng” luôn, có hôm gặp “Giải phóng” hàng trăm xe đò, xe nhà ở lại dự mít tinh. Có đêm nghe rõ tiếng súng lắm, anh có nghe thấy không?

Anh gật đầu và vẫn chăm chú nghe tôi nói.

- Các anh ở Quảng Nam cho biết huyện nhà giải phóng hầu hết, quân Giải phóng về đông lắm, đi hàng ngàn, súng ống còn tối tân hơn dạo kháng chiến trước nhiều. Ngay ở Sài Gòn bây giờ cũng vậy, anh ra anh sẽ thấy khác hẳn cách đây mấy tháng. Từ đứa trẻ con cũng công khai réo tên thằng Khánh chửi, chả ai coi bọn chúng nó ra gì nữa. Thanh niên học sinh vây kín nhà nó, bắt nó phải ra trước đám đông nhận tội. Tình hình này chắc chả mấy nữa đâu anh ạ!

Tôi cầm tay anh, hình như anh có mập, bàn tay không còn nổi hằn lên những đường gân xanh như dạo còn ở trong nhà thương. Anh nắn nắn ngón tay trước kia đeo nhẫn cưới, bảo tôi:

- Anh bán mất nhẫn cưới rồi. Hôm đi chôn mìn thiếu mất ít dây điện. Liên lạc với tổ chức không kịp, tiền không có. Trong người lúc ấy chỉ còn có cái nhẫn là bán ra tiền. Anh đành mang bán mua dây điện. Anh nghĩ: tính mạng mình còn chả tiếc nữa là nhẫn cưới. Hôm em hỏi anh, anh cuống lên, anh chống chế “đeo nó cồm cộm ở tay”, em có bực không?

Tôi úp mặt vào hai bàn tay anh, tôi khóc, tôi xin với anh:

- Anh đừng nhắc lại những chuyện đó nữa, em biết dạo đó em kém cỏi quá. Giá em được anh tin cậy thì việc tìm mua dây điện cho anh làm gì mà em không giúp nổi.

- Anh nhận nhiệm vụ đúng vào những ngày cưới, nhiệm vụ rất nguy hiểm như em đã biết. Ban chỉ huy không muốn anh đi chiến đấu vội, muốn anh được nghỉ một thời gian để hưởng hạnh phúc những ngày mới cưới. Nhưng anh xin đi bằng được. Chờ đợi mãi mới có dịp được đi giết Mỹ, lại giết thằng trùm sỏ, thì bỏ lỡ thế nào được. Được cấp trên đồng ý, anh lẳng lặng chuẩn bị, cố tình giấu em. Anh muốn được sống thoải mái những ngày mới cưới, đừng phải lo lắng vội. Anh định sau khi hoàn thành nhiệm vụ này rồi, anh sẽ đưa dần em vào tổ chức. Nhất định như vậy. Lúc nào anh cũng mong em không những là vợ anh mà còn là người đồng chí của anh.

Anh ngồi yên một lát rồi quay sang hỏi tôi:

- Chắc em có thai phải không?

Tôi lắc đầu:

- Không, không có.

Tôi cảm thấy hình như anh hơi buồn. Tôi làm thinh không nói thêm gì nữa. Lúc đó tên cảnh sát báo hết giờ. Người bạn tù trẻ cũng như anh từ ngoài cửa chầm chậm bước vào. Anh giới thiệu tôi với người bạn anh và nói:

- Anh nhờ các anh đây giúp đỡ nhiều lắm.

Tôi nói với bạn anh:

- Chồng tôi còn đau ốm, trăm sự nhờ các anh giúp đỡ, tôi xin cảm ơn các anh.

- Chị đừng cảm ơn. Ở tù với nhau thì phải giúp đỡ nhau, chả có gì phải cảm ơn cả, bọn tôi lúc nào cũng chăm sóc, đùm bọc nhau, chị yên tâm.

Tôi ôm bọc quà tới chỗ rẽ mới đưa anh cầm. Anh lại nhắc tôi:

- Lần sau nếu vào được, mua quà ít thôi, đỡ tốn tiền.

In tin Lên đầu tin

Phản hồi bài viết:

Tiêu đề:  
Nội Dung:  
Họ tên:  
Email:  
(*: Cần nhập đủ thông tin)

Danh sách Phản hồi: