Biểu Quyết

Bạn biết website của chúng tôi qua kênh thông tin nào?

  •   Internet
  •   Báo chí
  •   Nghe bạn bè giới thiệu

Biểu quyết

Xem kết quả

Số lượt truy cập: 11401649

Đang online: 82

» Văn & Thơ » Văn Xuôi

VÙNG ÔN ĐỚI

-- Ngày cập nhật:24/4/2017

PHƯỢNG VŨ (1937 - 2000) Quê quán: Phú Xuyên, Hà Nội. Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam. Chủ tịch Hội VHNT Hà Tây. Tổng Biên tập Tạp chí Diễn đàn Văn nghệ Việt Nam. Tác phẩm chính: Người anh hùng trên đồng cỏ; Núi chàng rể; Hoa hậu xứ Mường; Trước cửa thiền; Người mẹ và những đứa con; Năm người bạn; Vùng đất có những tên gọi mới.

 

Ảnh: Phạm Duy Trưởng

 

VÙNG ÔN ĐỚI

 

Anh lên công tác ở Đà Lạt nhiều lần nhưng không lần nào ở lâu quá một tuần. Lần này cũng vậy, xong công việc là vội vã ra về. Lần này khác lần trước ở chỗ cơ quan tiếp anh không có xe đưa về tận Sài Gòn, mà phải đi xe hàng. Hai chiếc hon-da của hai bạn đồng nghiệp đưa anh ra bến xe. Sau một lúc đi liên hệ, một người trở lại chỗ anh đứng phân trần:

- Xe gắn máy lạnh chạy hết cả rồi. Anh thông cảm đi xe mười hai chỗ ngồi vậy.

Anh cười xuề xòa:

- Không sao. Càng có dịp gần đời thường. Thôi, tạm biệt.

Anh lên xe, ngồi ở hàng ghế thứ hai sau người lái. Những hàng ghế sau, không ngoảnh lại nhìn, anh cũng biết là chật ních người. Xe qua thác Prenn, anh quài tay phải ra đằng sau thành ghế bên cạnh để lấy chỗ vịn. Khi đã có điểm tựa, anh nhắm đôi mắt mệt mỏi lại, tập trung nghĩ về cái bản báo cáo mà khi về đến thành phố, anh phải bắt tay vào viết. Đà Lạt là điểm cuối cùng trong chuyến đi khảo sát về môi trường du lịch của anh, kéo dài trong một tháng rưỡi, từ Sầm Sơn, Cửa Lò, Nha Trang đến Đà Lạt. Anh đã từ bãi biển Nha Trang lên Đà Lạt qua đèo Ngoạn Mục. Anh muốn biết nhiều con đường khác nhau đến danh đô miền núi này. Trước khi bắt đầu đợt công tác, anh đã bỏ ra nhiều ngày lục tìm các tài liệu từ nửa thế kỷ trước viết về Đà Lạt và các nơi nghỉ mát khác mà anh vừa đi qua. Anh đã biết thêm nhiều điều. Và còn nhiều điều anh chưa biết. Những điều anh chưa biết cứ như một cánh cửa bỏ ngỏ mong chờ anh trở lại tìm.

Qua Di Linh, xe chạy êm trên đường nhựa phẳng lì. Nhiều hành khách ngủ gật từ lúc xe chạy nay đang trong giấc nồng say sưa. Anh cũng thấy buồn ngủ nhưng không sao ngủ được. Anh nhắm mắt lại như người ngồi thiền. Và trong lúc nhập thiền, anh có cảm giác ấm nóng ở mu bàn tay và xoay đầu nhìn lại. Một khuôn mặt tươi trẻ, hồng hào với đôi mắt đen sáng, dịu dàng ngước lên nhìn anh, rồi lại gục đầu vào tay anh ngủ tiếp. Anh mỉm cười. "Cô nàng dễ ngủ thật". Anh giữ nguyên bàn tay đã cứng mỏi để cho người con gái ngủ yên. Nhưng chỉ một chốc, ngón tay anh lại cựa quậy chạm vào má nàng. Chừng như cái êm ái của bàn tay anh truyền vào cơ thể đã khiến nàng tỉnh giấc. Nàng ngổi thẳng dậy, hai tay vuốt mái tóc xõa. anh quay lại, bắt gặp ánh mắt cảm ơn của nàng. Nàng không còn trẻ, nhưng đẹp.

Đến Phú Lâm, xe dừng lại để hành khách ăn cơm trưa. Anh vào quán định ăn qua loa cho đỡ nhớ bữa nên chỉ gọi một bát cơm và một bát canh măng nấu với sườn. Cơm nóng canh nóng làm anh tỉnh người. Khi anh ngẩng lên, thấy nàng ngồi ở bàn đối diện, đã ăn xong và đang trả tiền. Lúc anh ra khỏi quán đã thấy nàng ở quầy hoa quả. Anh nảy ra ý định mua quà cho bạn ở thành phố, liền đến cạnh hỏi giá từng loại hoa quả. Thấy nàng mua hai quả sầu riêng và mấy cân chôm chôm, anh cũng nhờ nàng mua cho một quả sầu riêng và hai cân chôm chôm. Nàng chọn hoa quả rất sành và cách giao tiếp với người bán hàng cũng thật lịch thiệp, tế nhị.

Sau nhiều lần dừng xe cho khách lên, xuống, quá trưa xe về đến thành phố. Một điều không may đã xảy ra. Hai quả sầu riêng của nàng để ở dưới gầm ghế đã bị người khác xách mất. Nàng gọi lái xe đến bắt đền. Hai bên cãi cọ một lúc lâu. Lái xe nói không có bằng cứ gì về việc nàng mất hai quả sầu riêng. Anh phải đứng ra làm chứng. với lý lẽ và bằng chứng của anh, lái xe phải chịu đền nhưng lại bảo phải đợi chủ xe đến. Trong lúc đợi giải quyết, anh mời nàng vào một quán giải khát. Anh đặt cốc cà-phê đá trước mặt nàng, nói giọng an ủi:

- Ta ráng đợi một chút nữa, thế nào họ cũng phải đền!

Khuôn mặt nàng tươi tỉnh lên, nàng cười:

- Hôm nay rủi quá!

Ngừng lại một lát, nàng nhìn anh nói ý nhị:

- Nhưng lại may. May vì có anh, được gặp anh.

Anh chăm chú nhìn nàng:

- Thế ư? Cô về phố nào?

- Em ở Đà Lạt. Em về thành phố tiễn bà chị gái đi Mỹ. Còn anh ở Hà Nội vào phải không?

Anh gật đầu:

- Tôi vào công tác. Đầu tuần sau lại trở ra.

- Ủy, anh không ở chơi thành phố sao?

- Tôi vào thành phố nhiều lần rồi. Với lại không có chỗ nào để đến chơi.

Chủ xe đến, chỉ chịu đền một nửa giá trị bị mất nhưng lại đền bằng tiền. Thấy chuyện có vẻ phức tạp, anh bảo nàng ưng thuận cho xong. Anh đưa túi nilông đựng quả sầu riêng của mình cho nàng, bảo:

- Cô cầm tạm quả này về làm quà vậy.

- Không, em không cầm. Cảm ơn anh.

Nàng lẩm bẩm một mình: "Làm ăn gì mà lộn xộn vậy". Nàng toan ra ngoài bến tìm mua quả khác, anh vội giữ lại:

- Cô cứ cầm quả này đi. Tôi còn hai ký chôm chôm về làm quà cho bạn cơ mà!

Nàng cầm quả sầu riêng và hỏi anh:

- Giờ anh về đâu?

- Tôi về nhà khách của Bộ, ở số... phố...

Rồi anh vội móc túi lấy ra một tấm danh thiếp đưa cho nàng.

- Còn đây là địa chỉ và điện thoại của tôi ở Hà Nội. Tôi còn ở thành phố mấy ngày nữa. Nếu rỗi mời cô đến chơi.

- Tạm biệt anh, tối nay em sẽ đến thăm...

Nàng gọi một chiếc xích-lô và ra khỏi bến. Anh cũng gọi một chiếc xích-lô về nhà khách của Bộ. Không hiểu sao trong tâm trí anh cứ bừng lên những cảm giác mới lạ. Anh gặp bác bảo vệ ngay ở cổng, anh đưa tặng bác túi chôm chôm tươi rói, nói giọng hồ hởi:

- Chào bác, bác có khỏe không?

- Dạ khỏe. Cảm ơn cậu đã cho quà. Chà chôm chôm tươi quá!

Suốt chiều ấy sau khi tắm giặt, anh bày tài liệu ra bàn và nghĩ cách bố cục bản báo cáo. Nhưng hình ảnh nàng cứ ám ảnh anh. Lúc là cả khuôn mặt dịu dàng, lúc là một nụ cười, có lúc lại là đôi mắt đen sáng. Anh không tập trung tư tưởng làm việc được nữa. "Thôi, để đến mai, còn ung dung chán". Anh đóng cửa phòng, xuống đi dạo ở sân nhà khách. Anh ra phòng thường trực dặn bác bảo vệ nếu có ai đến thăm báo cho anh biết. Lòng dạ anh bồn chồn như hồi còn trẻ đang yêu. "Tối em sẽ đến thăm". Nàng là ai? Sao nàng lại nhận lời đến thăm anh một cách dễ dàng vậy? Hay nàng là điếm? Một loại điếm quí phái ít thấy xuất hiện ở các môi trường du lịch? Anh bỗng thấy rùng mình. Sự ô nhiễm môi trường đã đến mức báo động. Điểm du lịch nào gái bán hoa cũng đứng đầy khách sạn. Nàng có phải là loại gái ấy không? Trong phút chốc, anh nảy ra ý định làm một cuộc trắc nghiệm. Nếu nàng là điếm, bản báo cáo về du lịch của anh sẽ được bổ sung thêm nhiều điều.

Chập tối, có tiếng gõ cửa. Tiếng bác bảo vệ vang lên:

- Cậu có khách.

Anh mở cửa và thoáng thấy bóng bác bảo vệ đi xuống cầu thang. Trước mặt anh là nàng, hồng hào và tươi trẻ. Chiếc áo phông trắng hở cổ và chiếc quần gin màu mận chín rất hợp với nàng. anh mời nàng vào phòng. Nàng đứng ngắm chỗ anh ở mấy phút rồi mới ngồi xuống xa-lông. Anh mở tủ lạnh và hỏi nàng:

- Em uống gì nào?

- Cho em cốc sô-đa thôi. Chỗ anh ở sang nhỉ?

- Nhà khách của Bộ mà. À, mà công việc của em thế nào?

Nàng cười thỏa mãn, nói giọng hài lòng:

- Vui vẻ cả. Giá không có quả sầu riêng của anh thì em bẽ mặt với cả nhà.

"Nàng là con nhà lành". Anh chợt nghĩ. Nàng nói tiếp:

- Chả là, vào dịp này, bao giờ xuống thành phố em cũng mua sầu riêng. Hôm nay cả nhà đều đợi sầu riêng của em. Nhất là bà chị, trước khi rời đất nước chị muốn được hưởng hương vị sầu riêng cao nguyên...

Nói rồi nàng cười. Đôi vai tròn trịa và cái cổ nõn nà cứ rung lên. Anh chỉ muốn cúi xuống hôn vào cái cổ trắng như ngó cần ấy... Nàng đã đứng lên:

- Em đến thăm anh chút xíu như lời hẹn.

Anh nắm lấy bàn tay nàng, định kéo nàng vào lòng nhưng nàng vùng ra khỏi tay anh bảo:

- Không. Đừng giận em. Sáng mai em ra sân bay tiễn bà chị, rồi em ghé thăm anh. Được không?

- Được. Anh gật đầu.

Anh tiễn nàng ra cổng. Nàng trèo lên chiếc xe hon-đa do đứa cháu gái đèo, phóng đi. Anh ra phố, đi lang thang một lúc rồi trở về. Anh mở cửa vào phòng và nhận ra một mùi hương thoang thoảng như mùi thơm ở mái tóc nàng. Anh tự bảo mình: "Các trắc nghiệm không phải lúc nào cũng đúng".

Anh trở về Hà Nội, nộp bản báo cáo về chuyến đi khảo sát dài ngày. Nửa tháng sau, anh nhận được một bức thư không đề rõ địa chỉ người gửi. Đó là bức thư anh ít hy vọng nhận được. Anh bóc thư, đọc:

"Anh thương!

Em biết rằng anh chẳng mong đợi gì bức thư này. Bởi cuộc gặp gỡ của chúng ta chỉ như một cơn gió thoảng, nhất là với anh, một người thường có những chuyến đi như chuyến đi vừa rồi. Chắc là anh sẽ quên ngay những gì đã gặp trên đường. Nó có gì đáng nhớ đâu. Còn em, anh, có biết không, em không thể nào quên được. Nửa tháng qua em cố quên nhưng từng cử chỉ, dáng dấp của anh vẫn còn nguyên vẹn trong em. Nhất là cái buổi trưa, sau khi tiễn chị gái em đi Mỹ, em từ sân bay trở về, trong lòng hoang vắng một nỗi buồn. Em chỉ có chị là người chia xẻ mọi ưu tư, nay chị đã cách xa muôn trùng, lòng em buồn thắt lại. Em đến chào anh để về cao nguyên. Rất may là anh đang chờ em. Ở trong em lúc ấy buồn vui lẫn lộn. Em vừa mang một nỗi buồn xa chị, lại có niềm vui là quen anh. Em đã không giữ được bình tĩnh đã gục vào vai anh mà khóc. Anh đã an ủi em, vuốt tóc em và hình như còn hôn lên má em thì phải. anh đã coi em như một người em gái bé bỏng. Anh còn thổ lộ hoàn cảnh riêng của anh. Có thật là anh đã sống ly thân với chị đã mấy năm không hay là anh dối em. Anh ơi, em là người thật thà, em không đáng phải chịu sự lừa dối nào. Anh có biết không, hôm ấy em chú ý đến anh ngay từ phút đầu lên xe. Em thấy ở anh một dáng vẻ tao nhã, một cốt cách thường thấy ở một người trí thức. Ở anh luôn toát lên một vẻ đẹp, một điều tốt lành, nhất là khi thấy anh chăm sóc một bà mẹ mới sinh ngồi bên cạnh, người còn xanh rớt, phải đi trong chuyến xe lèn chặt người. anh còn lấy chiếc áo blouson mút ra gối đầu cho cháu bé ngủ. Tất cả cử chỉ của anh không qua được mắt em. Vì thế mà em yêu anh như chưa bao giờ yêu ai. Em chỉ tiếc là lúc chia tay, thay vì hôn tạm biệt em, anh lại hỏi em có cần tiền không? Em không giàu nhưng không cần tiền anh ạ. Em đã phải vật lộn với đồng tiền từ hai chục năm nay rồi nhưng vẫn không thật cần tiền. Anh hiểu cho em. Em mong nhận được thư anh. Em hôn anh".

Dưới lá thư là dòng ghi địa chỉ và lời dặn: "Anh hãy đốt thư này đi kẻo người khác thấy ảnh hưởng đến uy tín của anh".

Ngay tối hôm ấy anh viết thư cho nàng:

"Em,

Anh rất cảm động khi đọc thư em. Anh biết ơn những tình cảm của em đối với anh. Tâm hồn lạnh giá cô đơn của anh từ mấy năm nay bỗng ấm nóng lên bởi tình cảm của em. anh không lừa dối em đâu. Anh sống ly thân đã mấy năm. Anh có hai con gái đều đang là sinh viên. Mấy năm trước chúng ở với mẹ. Nay chúng ở ký túc xá. Thỉnh thoảng chúng đến thăm anh, chăm sóc anh những lúc đau ốm. Nhưng chúng có cuộc đời của chúng nên anh vẫn là người cô đơn. Anh làm công tác khoa học, có cái bề ngoài khô khan, lạnh lùng. Vợ anh thường chê anh ở cái vẻ bề ngoài khô khan ấy. Cô ấy bảo anh "Khô như ngói". Vậy vì sao em lại chú ý đến anh. Còn anh, anh để ý đến em vì anh thấy em không giống như những người đàn bà mà anh đã gặp. Ở em, anh thấy có vẻ gì dịu dàng, khuôn phép, em có những nét giống như những cô gái đồng trinh quần trắng áo dài đi lễ nhà thờ vào sáng chủ nhật. Phải rồi, anh đã bắt gặp em ở cái dáng vẻ "con chiên" của Chúa. Có đúng thế không? Cảm nhận ban đầu của anh về em là vậy. Suốt buổi chiều ấy anh cứ tự hỏi em là ai? thế rồi, không hiểu sao anh lại đặt dấu hỏi về em và lại còn hỏi em có cần tiền không? Xin em hãy coi đấy là một sai lầm của người tốt bụng. Qua thư em, anh càng thấy em là người chân thật, ưa những điều tốt lành. Hãy cho anh biết những gì thuộc về em".

Đều đặn, cứ nửa tháng anh nhận được một bức thư của nàng, thư sau dài hơn thư trước. Hình như nàng cũng là người cô đơn không có ai để tâm sự. Nàng chỉ còn anh để thổ lộ tâm tình.

"Anh thương!

Những gì thuộc về em thì nhiều lắm. Chỉ biết rằng em là người gốc Bắc. Quê em vốn ở xứ đạo Hà Hồi, nơi có nghề trồng rau, nhất là nghề trồng khoai tây nổi tiếng. Gia đình em di dân vào Đà Lạt từ những năm 1938 theo lệnh của Tổng đốc Hoàng Trọng Phu, sau khi Đà Lạt được Pháp chọn làm nơi nghỉ dưỡng. Bấy giờ Đà Lạt còn hoang vắng thưa thớt lắm, mới chỉ có một số biệt thự ở khu trung tâm và một số công trình công cộng khác như ga xe lửa, nhà bưu điện, nhà thờ, còn bốn phía chung quanh là rừng thông với những cây thông cao ngút ngàn. Gia đình em và mấy nhà nữa chọn đất ở một thung lũng bằng phẳng, có con suối hiền hòa chảy qua, lập thành một ấp gọi là ấp Hà Đông. Cha mẹ em và hai người anh trai lớn khai phá đất hoang trồng trọt. Mới đầu, là cây lúa, cây bắp, cây mỳ rồi đến cây ăn trái. Dần dần thành cơ ngơi, thành trang trại với những ruộng rau xanh tốt, với những vườn dâu tây sai quả chín đỏ ửng khắp vườn. Những gói hạt giống xu hào, bắp cải, cần tây, xúp-lơ và ngay cả những thứ rau tầm thường ở ngoài Bắc bố em mang vào đã hàng ngày sinh ra tiền. Đặc biệt là giống khoai tây da rạn ruột vàng được trồng ở vùng đất mới, đã như được phục tráng, cho năng suất và phẩm chất cao. Bố em kể chuyện là lúc mới vào, mỗi người dân được vay ba mươi nhăm đồng. Anh có biết không, lúc ấy một tạ gạo chỉ có một đồng hai hào. Bố em là người thạo công việc, biết cách làm ăn nên chỉ sáu tháng sau là trả hết tiền vay, lại có của ăn của để. Mười năm sau ông nổi tiếng là người làm ăn giỏi. Từ trồng rau, ông trồng cả hoa, cả cây cảnh. Những giống hoa ông sưu tầm đem về trồng có đến hàng trăm loại, loại nào cũng đẹp. Cây cảnh của ông đặc biệt quý, trong đó có cây tùng với thế ngũ phúc tuyệt đẹp, được tạo dáng công phu và độc đáo đã khiến cho tất cả người đến thăm đều trầm trồ thán phục. Cây tùng này bố em mang từ ngoài Bắc vào, đến nay đã là sáu mươi năm, bằng tuổi người anh thứ ba của em. Cây tùng ấy có người hỏi mua tới mười cây vàng nhưng bố em lắc đầu không bán. Ông bảo, cây tùng ấy là quê hương, không ai lại bán quê hương cả. Ông đã làm việc quần quật suốt đời vì cây rau, cây hoa, cây cảnh. Vua Bảo Đại biết tiếng ông, đã vời ông lên Biệt điện để hỏi thăm, cái lần nhà vua lên Đà Lạt để tuần du. Năm ấy chị gái em (bà chị vừa đi Mỹ) lên ba tuổi được theo bố lên Biệt điện để yết kiến nhà vua. Bà Nam Phương hoàng hậu đã vuốt tóc chị và cho kẹo. Sau này lớn lên chị đã chịu ảnh hưởng của lối sống vương giả, đã phải rời đất nước ra đi. Em kém chị đúng hai giáp. Năm chị lấy một công chức cao cấp có biệt thự riêng ở Sài Gòn thì mẹ em sinh em. Em là con út được chăm chút, được học hành. Em mơ ước trở thành cô giáo nên học xong trung học, em thi vào sư phạm Đà Lạt. Học xong chưa được làm cô giáo thì phải lấy chồng. Em lấy chồng trong một hoàn cảnh chua xót. Người chồng tương lai của em học hành dở dang, tuy nhà anh rất giầu. Anh bỏ học lập một hãng xe đò và ga-ra sửa xe. Anh theo đuổi em đã mấy năm. Bên nội bên ngoại đều khuyên em nhận lời nên đã bằng lòng cho nhà trai làm lễ ăn hỏi. Kế đến khi mẹ em bị bệnh nặng qua đời, bên nhà trai đã xin cưới chạy tang. Chắc anh cũng hiểu cảnh ngộ của em lúc ấy chứ?

Thôi thư đã dài, em ngừng bút và chúc anh mạnh khỏe, và luôn nhớ đến em. À em đã mắc điện thoại, anh có thể gọi cho em theo số máy...".

*

*                      *

Anh ngập ngừng mấy giây rồi nhấc máy, bấm số. Anh hồi hộp chờ tín hiệu ở bên kia đầu giây. Một giọng nữ ấm áp vẳng lên:

- Alô, tôi nghe...

- Nhung phải không?

- Vâng, em đây. Anh có khỏe không?

- Anh vẫn khỏe, vừa đi công tác về, chưa kịp thay quần áo đã gọi điện cho em.

- Cốt yếu là anh có nghĩ đến em, có nhớ đến em không?

- Có chứ. Còn em thế nào?

- Em vẫn thường.

- Có nhớ anh không?

- Có...

Tiếng "có" như một làn gió thoảng. Anh nói thì thầm:

- Sao mà anh thấy nhớ em...

- Có thật vậy không?

- Thật mà.

- Anh nhớ em như thế nào?

- Như trai gái nhớ nhau trong ca dao ấy: "Khăn thương nhớ ai..."

- Em cũng vậy. Mới hai tháng mà sao em thấy lâu quá! Bao giờ ta mới gặp lại nhau?

- Có thể là đầu tháng sau. Anh có chuyến công tác ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long. Anh sẽ ghé lại Sài Gòn vài ngày.

- Anh tin cho em biết khi vào đến thành phố nhé!

- Nhất định rồi. Tạm biệt em!

*

*                      *

Vừa xuống sân bay Tân Sơn Nhất, anh đã điện cho nàng:

- Alô, Nhung phải không? Anh đang ở sân bay.

- Anh ở thành phố bao lâu?

- Hai ngày. Mai em về Sài Gòn nhé!

- Vâng. Em sẽ về. Nhưng gặp anh ở đâu?

- Chỗ em đã đến đấy.

- Em nhớ rồi!

Về tới nhà khách, anh chỉ rửa mặt qua loa rồi đi giải quyết công việc. Anh định làm xong mọi việc trong hôm nay để mai có thì giờ rảnh rỗi tiếp nàng. Nàng sẽ đến và ở với anh một ngày. Anh sẽ đưa nàng ra khách sạn hoặc đi thăm khu du lịch Rạch Dừa. Đấy là khu du lịch mới xây dựng nhưng đã có đủ vẻ đẹp và sự yên tĩnh. Lòng phấn chấn, anh nhẩy lên xe ôm, vẫy tắc-xi đi khắp thành phố giải quyết công việc. Trời nắng nóng, người anh ướt đẫm mồ hôi nhưng trên môi luôn nở nụ cười. Anh thấy cuộc đời đẹp quá, đáng sống quá.

Bốn giờ chiều anh trở về nhà khách, thở phào nhẹ nhõm:

- Xong cả rồi. Giờ chỉ còn mỗi một việc là chờ Nhung mà thôi.

Anh mở máy lạnh nằm nghỉ một lát rồi đi tắm. Vừa tắm anh vừa nhẩm tính thời gian nàng tới. Nếu bảy giờ sáng xe chạy thì ít nhất 12 giờ trưa nàng mới tới nơi. Đang là mùa hè, khách thành phố đi nghỉ mát nhiều, các chuyến xe đò lại lèn chặt người, nàng sẽ mệt lắm. Không sao, chỉ một buổi đến Rạch Dừa là nàng khỏe lại ngay.

Đêm ấy anh ngủ chập chờn. Phần vì trời oi bức, máy lạnh không đủ xua tan cái nóng hầm hập, phần vì sự náo động của phố phường. Mãi gần sáng anh mới chợp mắt ngủ được một lát, lại tỉnh dậy ngay bởi tiếng gõ cửa:

- Cậu có khách đến thăm.

Tiếng gọi quen thuộc của bác bảo vệ khiến anh tỉnh hẳn. Anh vội mặc quần áo ra mở cửa. Anh chợt thốt lên:

- Kìa em. Em đến từ bao giờ?

Nàng mỉm cười nhìn anh:

- Em vừa mới tới. Em đi chuyến xe hai giờ đêm mà!

- Anh cứ đinh ninh là trưa nay em mới tới.

Nàng bước vào phòng, nhìn anh âu yếm rồi bảo:

- Em xuống thăm anh một lúc đến trưa thì em về. Em có công chuyện phải làm vào tối nay.

- Sao vội vậy? Em không ở thăm anh được một ngày ư?

- Em muốn lắm nhưng em không thể vắng mặt ở nhà một ngày được. Với lại thời tiết Sài Gòn nóng quá, không hợp với em.

Bấy giờ anh mới để ý thấy nàng mặc một chiếc áo khoác bằng len bên ngoài chiếc áo phông trắng. Anh bảo nàng:

- Lúc em đi, ở trên ấy lạnh lắm phải không?

- Vâng rất lạnh. Nhưng không rét đâu. Đã mấy chục năm nay em quen với cái lạnh ấy rồi. Cái lạnh của vùng ôn đới không hiểu sao lại gắn bó với em đến thế, không làm sao mà rời đi được, dù chỉ là một ngày, một đêm, ngoại trừ trường hợp bắt buộc.

- Vậy mà có lần em bảo em muốn ra ngoài Bắc thăm quê. Ngoài ấy mùa nóng thì nóng như thiêu như đốt, mùa rét lại rét cắt thịt cắt da.

Nàng cười:

- Thế cho nên em chỉ mong ước được ra Bắc thôi chứ chưa bao giờ thực hiện.

Anh bỗng thoáng buồn:

- Vậy là hôm nay không có trường hợp bắt buộc ư?

Nàng bỗng đứng lên ôm chầm lấy anh, giọng thì thào:

- Anh thông cảm cho em. Em không làm sao thoát khỏi cái vùng ôn đới ấy.

*

*                      *

Anh đi đồng bằng sông Cửu Long sớm hơn dự định một ngày. Chuyến công tác chỉ có một tuần lễ nhưng anh cảm thấy dài tựa một năm. Anh trở ra Bắc. Hai tháng sau anh lại có dịp đi công tác ở các tỉnh phía Nam vài lần nữa. Lần nào anh cũng báo cho nàng biết. Lần nào nàng cũng từ cao nguyên xuống gặp anh. Nhưng lần nào cũng vậy, chỉ sau vài ba tiếng đồng hồ trò chuyện, nàng lại vội vã ra về, không kịp ăn với nhau dù chỉ một bữa trưa đạm bạc. Sau mỗi lần như vậy, anh thấy chán nản và nghi ngờ tình cảm của nàng. Nàng có yêu anh không hay chỉ tưởng là yêu? Không biết những lần ra về vội vã như vậy là nàng muốn trốn cái nóng Sài Gòn hay là trốn tình yêu của anh? Cái vùng ôn đới mà nàng nói là cái gì? Có phải đấy là cảnh ngộ của nàng bên cạnh người chồng mà nàng không yêu? Hay đấy là khu trang trại mà gia đình nàng đã tạo dựng nên? Hay là cây thông dáng ngũ phúc mà cha nàng đã dụng công uốn tạo thế? Hay là ngôi nhà thờ với những tín điều của Chúa? Những thứ ấy ngôn ngữ nghề nghiệp của anh gọi là gì nhỉ? Môi trường sống ư? Phải rồi chính nó đấy. Chính vì nó mà anh phải lặn lội nhiều ngày ở nhiều vùng để khảo sát, khám phá ra những bí ẩn trong môi trường mà con người đang sống. Anh sẽ giữ gìn hay phá vỡ nó. Cũng như nàng vừa muốn ngã vào vòng tay anh lại vừa muốn thoát ra. Tại sao anh lại thầm trách nàng không dám vượt ra khỏi vùng ôn đới để phải chịu cái nóng của Sài Gòn hay cái rét của miền Bắc? Cuộc sống của nàng sẽ là bất hạnh hay hạnh phúc?

Suốt hai tháng đầu mùa đông, anh cứ luẩn quẩn với những ý nghĩ ấy. Anh cảm thấy cô đơn trên căn phòng tầng năm của một khu tập thể. Anh càng khắc khoải hơn khi thấy ngày hôm sau rét hơn ngày hôm trước và trên ti vi thông báo có một đợt rét đậm kéo dài.

- Nàng sẽ ra sao khi phải sống những ngày rét mướt này? Hẳn nàng lại như con moòng, con két ở vùng đồng trũng quê anh tìm về phương Nam ấm áp để tránh những ngày gió mùa đông bắc?

Nghĩ thế anh thấy buồn. Anh chợt nhớ đến một câu thơ không rõ của ai và luôn trở đi trở lại: "Tôi khổ như một chàng trai tương tư...". Câu thơ ấy sao mà hợp với tâm trạng anh. Trong những ngày ảm đạm ấy và trong không gian khoáng đãng của tầng năm, thỉnh thoảng anh vẫn nhận được điện thoại của nàng. Khi là lời hỏi thăm sức khỏe, khi là hỏi han về công tác, cách ăn ở của anh. Rồi có khi nàng thổ lộ cả nỗi nhớ mong và hỏi anh khi nào lại trở vào. Nhưng rồi tất cả đều chỉ bàng bạc như sương mù Đà Lạt buổi sớm mùa đông. Anh có cảm tưởng như các cuộc trò chuyện của nàng cũng bị chi phối bởi cái miền đất mù sương ấy.

Cho đến một ngày đầu tháng chạp, trời rét buốt, khí lạnh như xuyên qua các lớp len dạ luồn vào trong da thịt. Anh rùng mình. Bộ quần áo thường ngày anh mặc như không đủ ấm nữa. Anh mở tủ tìm thêm áo để mặc. Đúng lúc ấy có điện thoại của nàng:

- Anh ơi, anh thế nào? Em xem ti vi thấy nói ngoài ấy rét lắm phải không?

- Phải. Rét lắm em ạ. Sắp đại hàn mà!

- Anh phải giữ sức khỏe đấy, kẻo ốm rồi khổ. Em sẽ đan cho anh một cái áo len thật dày để mặc hôm đại hàn.

Anh không vui nhưng cũng nói đùa:

- Liệu có như nàng Bân đan áo cho chồng không? Anh hy vọng sẽ nhận được áo của em vào dịp rét nàng Bân!

Anh nói thêm ba tiếng "Cảm ơn em" rồi dập máy.

Mãi chiều ba mươi Tết, anh nhận được giấy báo của bưu điện mời ra nhận bưu phẩm. Đoán là quà tặng và thiếp chúc tết của bạn bè ở các nơi gửi về, anh ra bưu điện để lĩnh. Năm nào chả vậy, cứ Tết đến là anh nhận được hàng đống quà và thiếp chúc Tết. Năm nay chắc cũng thế chứ gì. Cô nhân viên bưu điện đưa cho anh một gói to, được gói bọc trang trọng nhưng khi cầm lên lại nhẹ và mềm. Cái gì thế nhỉ, của ai gửi. Người gửi có cái tên lạ hoắc, hình như là một tên giả. Còn người nhận đúng là địa chỉ và tên gọi của anh. Khi đã ở trong phòng, anh lấy kéo cắt dây buộc và lần nilông bọc ngoài. Thì ra là một chiếc áo len màu be có lẽ nặng đến nửa cân. Anh giở áo ra ngắm. Ở chỗ ngực áo đính một mảnh giấy trắng. Anh đọc thấy: "Anh thương! Nhân có người bạn về ngoài Bắc ăn Tết. Em gửi cho anh cái áo len vừa đan xong để anh kịp mặc ngày đại hàn. Chúc anh một năm nhiều tốt đẹp". Anh tháo mảnh giấy đặt lên bàn rồi lại ngắm chiếc áo. Len rất mịn, hình như là len Bông Batxto được đan trơn, từng mũi kim rất trau chuốt. Anh mặc thử thấy vừa như in, chứng tỏ nàng rất chăm chú đến việc đan áo. Nếu nàng không quan tâm đến anh, sao lại ước lượng được số đo chuẩn xác như thế. Đúng là nàng đã yêu anh, lúc nào cũng tưởng tượng đến hình ảnh của anh. Hình hài của anh nàng đã thể hiện trong từng mũi kim đan trên tấm áo. Anh bỗng thấy lòng ấm áp. Anh vội lục tìm tấm ảnh có khuôn mặt nàng mà hôm ở Rạch Dừa anh đã chụp khi nàng vừa quay mặt đi. Bức ảnh chụp hơi nghiêng nhưng vẫn nhận rõ khuôn mặt thanh tú có chiếc mũi dọc dừa. Cái vẻ mặt hơi nghiêng ấy vừa dịu dàng vừa cương nghị, có ánh mắt đằm thắm và u uẩn. Nhưng lạ sao mỗi khi ngắm ảnh nàng anh lại thấy khuôn mặt ấy bị bao phủ bởi một vùng khí hậu mà nàng không sao thoát ra được. Dù sao thì nàng cũng đã có những biểu hiện thật tốt đẹp đối với anh.

Đêm giao thừa, anh đặt chiếc áo len màu be lên thành ghế bên cạnh cành đào phai, thứ đào mà anh rất thích. Tết nào anh cũng chỉ chọn thứ đào ấy. Trước giao thừa năm phút, anh gọi điện thoại chúc Tết nàng. Anh chờ tín hiệu từ phía đầu giây xa xôi. Chỉ có tiếng "tút, tút" chậm rãi và một hồi chuông nhà thờ văng vẳng. Anh tự an ủi mình bằng ý nghĩ:

- Chắc là nàng đi hái lộc giao thừa.

Và anh tự nhủ mình:

- Chắc gì khi thoát ra khỏi cái vùng ôn đới ấy, nàng đã có hạnh phúc?

Hà Đông, chủ nhật 22/3/1998

 

In tin Lên đầu tin

Phản hồi bài viết:

Tiêu đề:  
Nội Dung:  
Họ tên:  
Email:  
(*: Cần nhập đủ thông tin)

Danh sách Phản hồi: